Tổng hợp

Văn mẫu lớp 12: Cảm nhận 14 câu đầu bài thơ Tây Tiến (Dàn ý + 3 mẫu)

Cảm nhận khổ 1 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng để thấy được hình ảnh người chiến sĩ can tràng và sáng sủa, luôn chuẩn bị hy sinh bản thân để đổi lấy tự do dân tộc. Đoạn thơ để lại 1 dấu ấn đẹp về thơ ca chiến sĩ. Bằng nét bút tài ba, nghệ thuật dùng từ tài tình, trải qua bao lăm lứa tuổi bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng vẫn giữ nguyên được trị giá của mình.

Bạn đang xem bài: Văn mẫu lớp 12: Cảm nhận 14 câu đầu bài thơ Tây Tiến (Dàn ý + 3 mẫu)

Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến khổ 1 gồm dàn ý cụ thể kèm theo 3 bài văn mẫu hay được Phần Mềm Portable tổng hợp từ bài làm của các bạn học trò giỏi. Thông qua tài liệu này giúp các bạn có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi tiếng nói đoàn luyện kĩ năng viết văn ngày 1 hay hơn để đạt được kết quả cao trong bài rà soát kì 1 sắp đến.  Kế bên ấy các bạn tham khảo thêm: phân tách đoạn 1 bài thơ Tây Tiến, phân tách bài thơ Tây Tiến, phân tách hình tượng người lính Tây Tiến.

Dàn ý cảm nhận 14 câu đầu bài thơ Tây Tiến

1. Mở bài: Giới thiệu tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến

– Dẫn dắt vào đoạn 1 của bài thơ: Đoạn đầu của bài Tây Tiến trình bày 1 thời kháng chiến gieo neo, hào hùng của đoàn quân.

2. Thân bài

2.1 Ký ức về núi rừng Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến

– “Sông Mã”, “Tây Tiến” đều như biến thành những người nhà thương cật ruột nhưng Quang Dũng dành trọn tình cảm thương nhớ.

– “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ lạ thường của những người lính từ phố thị.

=> Núi rừng Tây Bắc đã khắc vào tâm hồn của họ những kỷ niệm ko bao giờ quên, cùng lúc cũng là nỗi trống vắng, lạc điệu trong lòng tác giả.

2.2 Hình ảnh núi rừng Tây Bắc và trục đường hành binh gieo neo của những người lính

– “Sài Khao”, “Mường Lát” là những địa danh gợi nhắc về địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, mở mang sang các ko gian khác trong bài thơ.

– Nỗi nhớ ở đây chừng như dàn trải khắp vùng ko gian bao la, mỗi 1 nơi bước chân tác giả đi qua, ông đều dành những tình cảm mến thương đặc thù, biến thành kỷ niệm khắc sâu trong lòng.

– Những kỷ niệm bé như sự “mỏi” sau chặng hành binh, ngọn hoa chúc bập bùng trong đêm hôm đều chứng minh nỗi nhớ béo lao của tác giả.

– Gợi sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc, sự nặng nhọc và những cố gắng bền chí của người lính chiến lúc hành binh.

– “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa thú vị, trình bày tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hí hước của người lính chiến trong gieo neo.

– “Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi” là vẻ đẹp của sự sống, sự thi vị lãng mạn giữa núi rừng hoang sơ, gợi sự bình an, chốn ngừng chân cho người lính.

2.3 Hình ảnh người lính và kỷ niệm tình lang dân

– Hai câu thơ “Anh bạn… quên đời”:

  • Sự hy sinh cao cả của người lính chiến, tư thế hiên ngang, oai hùng chuẩn bị dấn thân vì Non sông.
  • Niềm xót xa cộng với sự cảm phục ý thức hy sinh của Quang Dũng dành cho đồng chí.

– 4 cấu kết đoạn: “Chiều chiều… nếp xôi”

  • Vẻ oai linh, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc với kết cấu thơ tân kỳ, dùng động từ mạnh, thêm vào ấy là sự nguy nan rình rập nơi rừng thiêng nước độc của mãnh thú.
  • Sự bừng tỉnh khỏi kỷ niệm của tác giả, trở lại hiện thực với nỗi nhớ thiết tha, nồng cháy, nhớ tình lang dân ấm nồng với nắm xôi, lửa hương những ngày còn tranh đấu.

3. Kết bài

3.1 Giá trị nội dung

– Đoạn thơ 14 câu tái tạo rõ nét tự nhiên và con người Tây Bắc, trên nền tự nhiên những người lính Tây Tiến hiện lên thật oai hùng, bi hùng.

3.2 Giá trị nghệ thuật

– Nghệ thuật tương phản và thổi phồng, cách sử dụng từ láy gợi hình, gợi cảm để khắc họa 1 bức tranh giàu màu sắc, đường nét.

– Văn pháp hiện thực liên kết với cảm hứng lãng mạn; chất họa liên kết với chất nhạc => dựng lại trục đường hành binh giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở, hà khắc, hùng vĩ và thơ mộng.

  • Nghệ thuật hài thanh: Tác ví thử dụng câu thơ nhiều thanh trắc hình thành sự trắc trở.
  • Thơ mộng, trữ tình: với các từ ngữ lạ mắt, ấn tượng: “hoa về” chứ chẳng hề “hoa nở”; “đêm hơi” chứ chẳng hề “đêm sương”.

Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến khổ 1

Tây Tiến là bài thơ điển hình nhất của hồn thơ Quang Dũng và là 1 trong những bài thơ hay nhất trong số những bài viết về đề tài người lính thời đoạn kháng chiến chống Pháp. Với sự liên kết tài tình giữa văn pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, bài thơ đã khắc hoạ chân thật cuộc sống và tranh đấu đầy gieo neo, sự hy sinh quả cảm và vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến. Bức chân dung người lính Tây Tiến oai hùng, lẫm liệt hiện lên rõ ràng qua 14 câu thơ đầu bài thơ.

Bài thơ được viết 5 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta gặp muôn nghìn gieo neo. Không những phải tranh đấu nơi rừng núi hiểm trở, người lính Tây Tiến còn phải đối diện với sự thiếu thốn về quân trang, quân dụng, lương thực và thuốc thang. Thế nhưng mà, bằng tất cả sức mạnh của lý tưởng yêu nước, người lính đã bền chí bám trụ địa bàn, sống sáng sủa tin cậy, xong xuôi hoàn hảo nhiệm vụ dẫu có mất mát, hi sinh. Tất cả được Quang Dũng ghi nhận trong bài thơ vừa hào hùng vừa cực kỳ bi hùng.

Sự liên kết giữa cảm hứng lãng mạn và văn pháp hiện thực đã tạo ra chất bi hùng rất đặc thù cho 14 câu thơ đầu bài thơ, mang lại những màu sắc và âm hưởng mạnh bạo, hào hùng cho sự hy sinh, mất mát của người chiến sĩ Tây Tiến. Cảm hứng chủ quản của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng chí thân thương, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm đẹp 1 thời chiến trường… 4 câu thơ đầu mở ra nỗi nhớ mênh mông:

“Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.

Nói về nỗi nhớ đó, bài thơ đã đánh dấu hào khí lãng mạn của tuổi xanh Việt Nam, của “bao chiến sĩ người hùng” trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp cực kỳ gieo neo nhưng quang vinh. Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương mến.

Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ chẳng thể nào nguôi được, nhớ da diết tới quặn lòng, ấy là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” vang lên thiết tha như tiếng gọi người nhà yêu. Từ cảm “ơi!” bắt vần với từ láy “chơi vơi” hình thành âm hưởng câu thơ sâu lắng, bổi hổi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời kì 5 tháng, lan rộng lan xa trong ko gian. Hai chữ “xa rồi” như 1 tiếng thở dài đầy nhớ thương, hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ 2 trình bày 1 tâm tư đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi đó, biết bao hoài niệm về 1 thời gieo neo hiện về trong tâm khảm.

Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành binh đầy thách thức gian truân nhưng đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khuất khúc dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”.

Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được đề cập ko chỉ gợi lên bao nhớ thương vơi đầy nhưng còn để lại nhiều ấn tượng về sự bóng gió, hẻo lánh, hoang dại, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợi trí tò mò và hào hứng của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn 5 nhớ thương đất Thăng Long”. Đoàn binh hành binh trong sương mù giữa núi rừng chập chồng

Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳng dựng thành phía trước nhưng các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua. Dốc lên thì “khuất khúc” khấp khểnh, dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn tới vực sâu. Các từ láy: “khuất khúc”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh” đặc tả gieo neo, gieo neo của nẻo đường hành binh tranh đấu: “Dốc lên khuất khúc, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời!”. Đỉnh núi mù sương cao ngất. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa hình thành 1 hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và phấn đấu của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao nhưng đi đến “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ địch nào cũng đánh thắng!”.

Thiên nhiên núi đèo hiện ra như để thách thức lòng người: “nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, ko dứt. Câu thơ được tạo thành 2 vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao // nghìn thước xuống”, hình tượng thơ tương thích hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, trình bày 1 ngòi bút đầy chất hào khí của thi sĩ – chiến sĩ.

Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng liên tục, gợi tả, sự êm dịu, tươi mát trong tâm hồn những người lính trẻ, trong gieo neo vẫn sáng sủa yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền từ và mến thương, nơi nhưng các anh sẽ tới, đem xương máu và lòng can đảm để bảo vệ và giữ giàng.

Gian khổ ko chỉ là núi cao dốc thẳm, ko chỉ là mưa lũ thác nghìn nhưng còn có tiếng gầm của cọp, beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại nghìn hoang sơ:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

“Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” nhưng mà âm thanh đó, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, luôn khẳng định cái bí ẩn, cái uy thế kinh khủng nghìn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây nguy hiểm để tô đậm và khắc họa chí khí người hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm não người đọc 1 ấn tượng: gian truân cực độ nhưng cũng can tràng cực độ! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực tự nhiên như bị giảm xuống và trị giá con người như được tăng lên hẳn lên 1 tầm vóc mới. Quang Dũng cũng nhắc đến sự hy sinh của đồng chí trên những chặng đường hành binh cực kỳ gieo neo:

“Anh bạn dãi dầu ko bước nữa
Gục lên súng mũ quên mất đời…”

Hiện thực chiến tranh lâu nay vốn như thế! Sự hy sinh của người chiến sĩ là thế tất. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nhắc đến cái mất mát, hy sinh nhưng mà ko chút bi luỵ, thảm thương.

Hai câu cuối đoạn thơ, xúc cảm bổi hổi thiết tha. Như lời nhắn gửi của 1 khúc tâm tư. Như tiếng hát của 1 bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa kiêu hãnh:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

“Nhớ ôi!” tình cảm dạt dào, ấy là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh ko mọc tóc”. Câu thơ đặm đà tình lang dân. Hương vị bản mường với “cơm lên khói”, với “mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là 1 thông minh lạ mắt về tiếng nói thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ phát triển thành uyển chuyển, mềm mại, tình thơ phát triển thành ấm áp. Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em” và tình lang dân, sau này Chế Lan Viên viết trong bài “Tiếng hát con tàu”:

“Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc ngày tháng ko có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”

“Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ nghĩa tình, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân thương.

Qua 14 câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 5 kháng chiến chống Pháp. Bức tranh tự nhiên hoành tráng, trên ấy nổi trội lên hình ảnh chiến sĩ can tràng và sáng sủa, đang xả thân vào máu lửa với niềm tự hào “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”. Đoạn thơ để lại 1 dấu ấn xinh xắn về thơ ca kháng chiến nhưng sự thành công, là liên kết hài hoà giữa thiên hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa lứa tuổi đã trôi qua, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng ngày 1 thêm ý nghĩa.

Cảm nhận khổ 1 bài thơ Tây Tiến

Tây Tiến được xem là đứa con đầu lòng tráng kiện và tài ba của Quang Dũng và của cả nền thơ kháng chiến của văn chương Việt Nam, đặc thù là của những 5 đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp gieo neo. Những chàng thư sinh áo trắng, rời bỏ bút mực xanh lên đường đi tranh đấu vì lòng yêu Non sông, quê hương thiết tha, vì nền hòa bình của dân tộc, họ đi với trái tim hùng dũng, quả cảm nhưng mà vẫn mang những nét lãng mạn, hào hoa của lớp trẻ kiến thức Hà Nội. Điều đó đã được thi sĩ Quang Dũng tái tạo 1 các hoàn hảo trong bài thơ Tây Tiến bằng ngòi bút hào phóng, hồn hậu và hết mực tài ba lãng mạng. Với khổ thơ đầu, thi sĩ đã hướng về nội tâm của người lính chiến, cũng chính là bản thân tác giả với những nỗi nhớ thiết tha miền đất Tây Bắc và vẻ đẹp vượt vượt lên gieo neo gieo neo của người lính Tây Tiến.

Quang Dũng quê ở Đan Phượng, Hà Tây (nay là Hà Nội), ông là 1 nghệ sĩ đa tài, vừa là nhạc sĩ, vừa là họa sĩ chính thành ra thơ ông rất giàu chất nhạc và chất họa. Quang Dũng còn là 1 người lính ưu tú, tham dự nhiều mặt trận không giống nhau, nên những vần thơ của ông về người lính rất sống động và chân thực, với sức truyền cảm mạnh bạo, cá tính thơ ông gói gọn trong mấy từ: Phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài ba. Binh đoàn Tây Tiến được thành lập vào đầu 5 1947, thành phần cốt yếu là những thanh niên Hà thành, nhận nhiệm vụ phối hợp với quân nhân Lào để bảo vệ biên cương Việt- Lào, đánh mất dần lực lượng quân đội Pháp. Địa bàn hoạt động trải rộng suốt từ vùng Sơn La, Hòa Bình, tới Sầm Nứa (Lào), rồi vòng về vùng phía tây Thanh Hóa, phải hành binh nhiều lần, điều kiện tranh đấu cực kỳ gieo neo. Tây Tiến sáng tác cuối 5 1948, ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng hồi ức lại về những tháng ngày ở binh đoàn Tây Tiến. Ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, sau đổi thành Tây Tiến, 1 đầu đề súc tích, cô đọng, nhưng mà vẫn trình bày rõ ràng xúc cảm chủ quản của bài thơ là nỗi nhớ. Cảm hứng bao trùm bài thơ là cảm hứng lãng mạn và ý thức bi hùng.

Nỗi nhớ về 1 Tây Bắc dữ dội, được trình bày trong 14 câu thơ đầu.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
……..
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Hai câu thơ đầu “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!/”Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”, gợi lên những nỗi nhớ, nỗi thương dâng trào về 1 thời đã qua, về 1 vùng đất đã xa. Lời gọi “Tây Tiến ơi” rất thiết tha khắc khoải, Tây Tiến ko chỉ là 1 cái tên nhưng chừng như nó đã biến thành người nhà thương cật ruột. Quang Dũng gọi tên “sông Mã” ngay từ những dòng thơ đầu, địa danh đó cũng là hiện thân điển hình của vùng rừng núi Tây Bắc. Trên quãng đường hành binh, dòng sông đó ko chỉ là 1 địa danh trên bản đồ địa lý nhưng đã biến thành người bạn, người tri kỷ, là chứng nhân lịch sử đã chứng kiến biết bao đau thương, gian lao, vui buồn của người lính chiến trong suốt cuộc trường chinh. Thế nên trong nỗi nhớ của Quang Dũng, trước tiên là nhớ về binh đoàn Tây Tiến thân thương, sau là về Tây Bắc với dòng sông Mã vương đầy kỷ niệm. Không chỉ có tương tự, trong ấn tượng, trong nỗi nhớ của thi sĩ còn có hình ảnh của rừng núi, ấy là nỗi nhớ “chơi vơi” lạ thường! Bởi với người lính xuất thân từ phố thị, thì hình ảnh rừng núi Tây Bắc cực kỳ xa lạ, đã để lại những ấn tượng thâm thúy trong lòng người lính chiến. Quang Dũng 2 lần nhắc chữ “nhớ”, nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ đang khắc khoải trong tâm hồn, đặc thù “nhớ chơi vơi” lại là 1 cách diễn đạt nỗi nhớ rất riêng của Quang Dũng. Đấy là cảm giác, trơ thổ địa, hụt hẫng, chênh vênh trong 1 nỗi hoài niệm bóng gió, bởi Tây Bắc đã xa lắm rồi, 1 Tây Bắc đầy sương mù, mây vờn quanh núi chơi vơi, hoang vắng, nhưng mà lắm oai hùng.

Ví như 2 câu thơ đầu là nỗi nhớ bao trùm thì ở 12 câu thơ tiếp nỗi nhớ đó đã được thi sĩ khắc sâu qua nhiều kỷ niệm ấn tượng. Trước tiên là nỗi nhớ về Sài Khao, Mường Lát trong, “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Hai địa danh đã gợi nhắc về những địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến, từ ấy kéo ra các ko gian bao la khác xuyên suốt cả bài thơ như Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu,… Hình như nỗi nhớ của thi sĩ dàn trải dài khắp chiều ko gian, mỗi nơi nhưng thi sĩ từng bước chân đi qua thì tâm hồn thi sĩ đều cảm thấy mến thương gắn bó, trích lời Chế Lan Viên “Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương”. Có thể nói mỗi 1 địa danh biểu tượng cho núi rừng Tây Bắc đều đã biến thành 1 kỷ niệm khắc sâu vào trong tâm tưởng của thi sĩ chẳng thể phai mờ, ấy cũng là tình cảm đằm thắm sâu nặng, cũng trích lời Chế Lan Viên “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.

Hình ảnh “sương lấp đoàn quân mỏi” vốn gợi hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trở về Mường Lát trong màn sương mờ mờ ảo của núi rừng Tây Bắc, gợi lên vẻ đẹp lãng mạn của tự nhiên núi rừng, cùng lúc là vẻ đẹp , kết đoàn của người lính chiến. Cảm giác “mỏi” hiện diện trong gân cốt người lính chiến, chừng như vẫn còn như mới trong tâm hồn Quang Dũng, điều đó càng chứng tỏ nỗi nhớ thâm thúy của tác giả, bởi kỷ niệm càng bé bao lăm thì nỗi nhớ là càng bự béo bấy nhiêu, nhớ kỹ tới cả cái “mỏi” hành binh xa! “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, hoa ở đây có thể hiểu là nghìn hoa của núi rừng, hiện thân cho vẻ đẹp của tự nhiên, nhưng mà có nhẽ chuẩn xác hơn, thì hoa đó là ánh sáng của ngọn đuốc bập bùng trong đêm tựa đóa hoa lửa trong những đêm hành binh mờ mịt trở về Mường Lát. Hình ảnh ngọn hoa chúc vừa gợi lên nét lãng mạn, vừa hào hùng của 1 thời Tây Tiến…

Sau nỗi nhớ về Mường Lát về Sài Khao chính là kỷ niệm về những ngày hành binh tranh đấu đầy gieo neo, về vùng núi rừng Tây Bắc lắm hiểm trở, nguy hiểm.

“Dốc lên khuất khúc dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, nghìn thước xuống
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

Điệp từ “dốc” gợi lên cảnh những đỉnh dốc nối liền nhau, hết đỉnh dốc này lại đến đỉnh dốc khác, chẳng biết bao giờ mới hết. Từ láy “khuất khúc”, “thăm thẳm” gợi lên sự hiểm trở, loanh quanh, khấp khểnh, thêm vào ấy là sự chông chênh của núi rừng, bên là vách núi bên là vực thẳm, sự tun hút của cung đường. Cả câu thơ gợi mở 1 ko gian hành binh vừa cao lại vừa sâu rộng và người lính đang phải cố gắng cực kỳ mình để vượt qua những chặng đường đầy nguy khó. Điệp ngữ “Ngàn thước” liên kết với nghệ thuật tương phản “lên cao-xuống”, cũng tiếp diễn vừa gợi ra độ cao chon von của đỉnh dốc, vừa gợi ra độ sâu thăm thẳm của đáy dốc. Lời thơ làm nổi trội được thuộc tính hùng vĩ, hiểm trở nổi trội của núi rừng Tây Bắc và cố gắng vượt lên trên những gieo neo địa hình hành binh của người lính chiến khi bấy giờ. Nhưng dẫu tự nhiên có hùng vĩ, chập chồng, khuất khúc tới mấy thì cũng phát triển thành bất nghĩa dưới bước chân của binh đoàn Tây Tiến, người lính đã hiện lên với tầm vóc là 1 đối phương xứng tầm của tự nhiên. Từ láy “hẻo lánh” trình bày sự hoang vắng, lạnh lẽo của núi rừng, nơi chừng như chưa từng có bước chân người tới, chính vì người lính hành binh trên những ngọn núi cao chon von, nên những “cồn mây” mới như đang quẩn quanh, như nô đùa dưới chân, ngỡ rằng người chiến binh đang bước đi trên mây chứ không phải núi rừng.

Hình ảnh “súng ngửi trời” là 1 hình ảnh nhân hóa thú vị và đầy thông minh của Quang Dũng, vì người lính hành binh qua những đỉnh núi, nơi có thể chạm tới mây, thì những khẩu súng khoác trên vai, mũi súng chừng như đang chọc thủng trời xanh kia, nói là “súng ngửi trời” ấy là cách cảm nhận thật nghịch ngợm của người lính trẻ lãng mạn, hí hước và hồn nhiên. Câu thơ cuối có âm điệu thật khác so với 3 câu thơ trên, lời thơ nhẹ nhõm trầm xuống, hình dung như người lính chiến từ trên đỉnh núi cao nhưng phóng tầm mắt xuống, thấy những cảnh vật mơ hồ ko sắc nét, nhưng mà ấy là tín hiệu của sự sống, “mưa xa khơi” gợi cảm giác khoan khoái mát mẻ của làn mưa trắng xóa. Đấy là nét đẹp lãng mạn của núi rừng Tây Bắc, cùng lúc cũng gợi lên trong tâm hồn người lính những cảm giác thanh bình, về 1 chốn ngừng chân, để tiếp thêm động lực cho những chặng đường trước mắt.

Sau những ngày hành binh gieo neo, thì hồi tưởng của Quang Dũng tiến về sự hi sinh của 1 người lính Tây Tiến.

“Anh bạn dãi dầu ko bước nữa
Gục lên súng mũ quên mất đời!”

Các gọi “anh bạn” trình bày tình cảm thân thiện trìu mến, cụm từ “ko bước nữa” và “quên mất đời” đều là cách nói tránh về cái chết, điều ấy là giảm đi sự đau thương mất mát, cùng lúc nhấn mạnh sự hy sinh cao cả của người lính chiến. Tư thế hi sinh “gục lên súng mũ”, trình bày ý thức người lính chiến dẫu có hy sinh cũng không phải rời đi nghĩa vụ, trang bị gắn bó với đời lính, ấy là 1 tư thế ngang tàng, gan dạ, anh dũng của người lính. Có thể nói trong 2 dòng thơ trên có sự đớn đau xót xa của thi sĩ với người đồng chí cùng lúc cũng là tấm lòng cảm phục với sự hy sinh người hùng đó. Lời thơ cũng cho thấy cái nhìn tỉnh ngủ và can đảm của Quang Dũng lúc viết về chiến tranh, nhưng mà không phải giấu đi những nỗi đau mất mát.

Tiếp tới là nỗi nhớ về 1 thời gieo neo và lãng mạn, điều đó được trình bày rõ ràng trong 4 dòng thơ sau:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Cấu trúc thơ tân kỳ lạ mắt, dùng động từ mạnh bạo trong câu “Chiều chiều oai linh thác gầm thét” trình bày cái dữ dội, hùng vĩ hoang vu của vùng núi rừng Tây Bắc. Kế bên ấy, ko chỉ ngừng lại ở sự hoang vu hùng vĩ, nhưng núi rừng nơi đây còn ẩn chứa những mối hung hiểm khôn lường, Quang Dũng viết “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”, nơi rừng thiêng nước độc, lại còn có sự hiện diện của mãnh thú. Mãi chìm trong những ký ức nhưng mà thi sĩ bỗng sực tỉnh “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”, Tây Tiến đã xa, Tây Bắc cũng đã xa lắm rồi, chỉ còn lại kỷ niệm. Nỗi nhớ ở đây được biểu thị 1 cách thiết tha, cồn cào, nhớ cả về những bát cơm, nhang khói lửa, nắm xôi ấm tình lang dân, cùng lúc cũng gợi lên 1 thời kháng chiến vừa nặng nhọc vừa lãng mạn, thi vị nên thơ.

Suốt 14 dòng thơ đầu xoay bao quanh nỗi nhớ khôn nguôi về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, về vẻ đẹp vượt lên trên gieo neo gieo neo của người lính, sự hy sinh cao cả, nét lãng mạn trong tâm hồn người lính trẻ giữa những gieo neo chất chồng. Bằng ngòi bút hào hoa và lãng mạn Quang Dũng đã diễn đạt 1 cách chân thật nhất những nỗi nhớ khắc khoải trong tâm hồn của người lính chiến về 1 thời kháng chiến đã đi qua với giọng điệu hào phóng, hình ảnh thơ giàu sức gợi, nhịp thơ chuyển đổi, tất cả đã hình thành 1 âm hưởng riêng, 1 cá tính riêng của người lính Tây Tiến.

Cảm nhận bài thơ Tây Tiến khổ 1

Quang Dũng là 1 trong những thi sĩ chiến sĩ điển hình của thời gian kháng chiến chống Pháp. Ông đặc thù thành công lúc viết về đề tài người lính trí thức tiểu tư sản hào hoa, phong nhã. 1 trong những bài thơ nổi danh viết về người lính là bài thơ Tây Tiến.

Cảm hứng chủ quản trong suốt bài thơ là cảm hứng về nỗi nhớ. Đấy là nỗi nhớ khó phai của đời người lính Tây Tiến được khắc hoạ thành công ở đoạn đầu của bài thơ

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

Tây Tiến là 1 trong những bài thơ hay, điển hình của Quang Dũng. Nhắc tới thi sĩ, ko người nào chẳng thể ko nhớ tới Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác cuối 5 1948 lúc thi sĩ đóng quân ở Phù Lưu Chanh – 1 làng ven bờ sông Đáy, nhớ về đơn vị cũ ông đã viết nên bài thơ. Ban sơ, ông đặt bài thơ là Nhớ Tây Tiến nhưng mà về sau đổi lại thành Tây Tiến vì thi sĩ cho rằng chỉ với 2 từ Tây Tiến cũng đủ đã gợi lên nỗi nhớ là cảm hứng chủ quản chứ ko cần tới từ “nhớ”

Là 1 người lính trẻ hào hoa, lãng mạn ra đi theo tiếng gọi của đất nước, sống và tranh đấu nơi núi rừng gieo neo nhưng mà chất nhà thơ vẫn trào dâng mãnh liệt trong lòng thi sĩ. 1 thời gắn bó sâu đậm với Tây Tiến, với đồng chí, với núi rừng đã khiến cho ông ko khỏi bổi hổi, xúc động lúc nỗi nhớ về Tây Tiến dâng trào trong kí ức của thi sĩ.

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”

Câu thơ như tiếng gọi chân tình, thiết tha khởi hành từ trái tim và tâm hồn người nhà thơ. Bằng cách sử dụng câu cảm thán mở màn bài thơ, Quang Dũng đã gọi tên cảm hứng chủ quản của bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết về núi rừng Tây Bắc. bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá, câu thơ phát triển thành đẹp diệu kỳ. “Sông Mã” ko thuần tuý là 1 con sông nhưng nó đã biến thành 1 hình ảnh hiện hữu, 1 chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao nỗi vui buồn, được mất. “Tây Tiến” ko chỉ để gọi tên 1 đơn vị quân nhân nhưng nó đã biến thành 1 người bạn ” tri kỉ tri âm” để thi sĩ thổ lộ hàn huyên

“Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Câu thơ thứ 2 với điệp từ “nhớ” được lặp lại 2 lần đã diễn đạt nỗi nhớ quay quắt, cồn cào đang ùa vào tâm não Quang Dũng. tính từ “chơi vơi” liên kết với từ “nhớ” đã khắc sâu được tình cảm nhớ nhung da diết của thi sĩ và nỗi nhớ ấy như 1 cơn thác lũ tràn vào tâm não thi sĩ đã đẩy ông vào tình trạng dập dềnh, hư ảo. 2 câu đầu và cách dùng từ tuyển lựa, gợi hình gợi cảm đã mở cửa cho nỗi nhớ trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn thi sĩ

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khuất khúc dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Quang Dũng đã liệt kê hàng loạt các địa danh như: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông… Đấy là địa bàn hoạt động của binh đoàn Tây Tiến, những nơi họ đi qua và ngừng chân trên bước đường hành binh gieo neo, nhọc nhằn. Đề cập Tây Bắc, là nhắc đến vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu hà khắc. Có những đêm dài hành binh người lính Tây Tiến nặng nhọc đi trong đêm chi chít sương giăng, ko nhìn rõ mặt nhau. “Đoàn quân mỏi” nhưng mà ý thức ko “mỏi”. Bởi ý chí phấn đấu ra đi vì đất nước đã khiến cho những trí thức Hà thành yêu nước phát triển thành bền chí, quật cường hơn. Quang Dũng đã rất tài tình lúc đưa hình ảnh “sương” vào đây để khắc hoạ hơn sự hà khắc của núi rừng Tây Bắc trong những đêm dài lạnh lẽo. Cũng mô tả về “sương”, Chế Lan Viên cũng đã viết trong “Tiếng hát con tàu”:

“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nao qua lòng lại chẳng mến thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”

Có nhẽ tự nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc nên nó đã biến thành 1 kí ức khó phai trong lòng thi sĩ. Thiên nhiên tuy có đẹp nhưng mà cũng rất hiểm trở. Có những khi người lính Tây Tiến phải nặng nhọc để trèo lên đỉnh chạm tới mây trời. Quang Dũng đã khôn khéo sử dụng từ “thăm thẳm” nhưng ko dùng từ chon von” bởi nói “chon von” người ta còn có thể cảm nhận và thấy được bề sâu của nó nhưng mà “thăm thẳm” thì khó có người nào có thể tưởng tượng được nó sâu thế nào. Bằng những từ láy gợi hình ảnh rất cao như “khuất khúc”, “thăm thẳm”, “hẻo lánh”, thi sĩ đã khiến cho người đọc cảm thu được cái hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc. Nhà thơ cũng rất trẻ trung, nghịch ngợm lúc đưa hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ ” súng ngửi trời” để cho ta thấy kế bên tự nhiên hiểm trở còn hiện lên hình ảnh người lính với tư thế uy phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang sơ. Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc đã hình thành vẻ gân guốc, mệt nhọc đã nhấn mạnh được cảnh quang tự nhiên Tây Bắc thật chênh vênh, hiểm trở

“Ngàn thước lên cao nghìn thước xuống”

Điệp từ “nghìn thước” đã mở ra 1 ko gian nhìn từ trên xuống cũng như từ dưới lên thật hùng vĩ, giăng mắc. Kế bên cái hiểm trở, hoang vu ta cũng thấy được vẻ đẹp trữ tình nơi núi rừng:

“Nhà người nào Pha Luông mưa xa khơi”

Có những cơn mưa rừng chợt tới đã để lại bao giá rét cho người lính Tây Tiến. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó phát triển thành lãng mạn, trữ tình hơn. Nhà thơ đã sáng dạ, thông minh lúc nhắc đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi”. Nó gợi lên 1 cái gì ấy rất huyền bí, hoang vu giữa chốn núi rừng. Câu thơ thứ 8 nhiều thanh bằng như làm dịu đi vẻ dữ dội, hiểm trở của núi rừng và mở ra 1 bức tranh tự nhiên nơi núi rừng đầy lãng mạn. 8 câu thơ đầu của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, về đồng chí Tây Tiến nhưng mà qua những cụ thể đặc tả về tự nhiên núi rừng Tây Bắc, nó đã biến thành 1 kí ức bóng gió trong tâm não thi sĩ. Đấy là 1 nỗi nhớ mãnh liệt của người lính Tây Tiến nói riêng và của những người lính khái quát.

Tuy trên chặng đường hành binh, các anh gặp muôn ngàn gieo neo, gian truân tới cực độ nhưng mà ta vẫn thấy ở các anh có sự can tràng cực độ. Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực của tự nhiên như bị giảm xuống và trị giá con người như được tăng lên hẳn lên 1 tầm vóc mới. Quang Dũng cũng nhắc đến sự hi sinh của đồng chí trên những chặng đường hành binh cực kỳ gieo neo:

“Anh bạn dãi dầu ko bước nữa
Gục lên súng mũ quên mất đời!”

“Tây Tiến” đã từng có 1 thời kì ko được đưa vào chương trình giảng dạy bởi tác phẩm đã nhắc đến tới đề tài mẫn cảm trong văn học Việt Nam thời chiến tranh, ấy là viết về cái chết, viết về sự hi sinh. Chúng ta biết rằng, văn học muốn thuyết phục lòng người thì trước tiên phải sống động. Dù là viết về chiến tranh nhưng mà Quang Dũng ko nể nang, tránh né sự thực đau thương. Vì thế nhưng “Tây Tiến” được 1 lần nữa đưa vào chương trình giảng dạy như 1 tuyệt tác văn học. Hai tiếng “ anh bạn” cất lên như 1 tiếng nấc nghẹn ngào. Sức nặng của câu thơ đã dồn vào từ láy “dãi dầu” trình bày nặng nhọc, gieo neo trên chặng đường hành binh. Đặc trưng thay, tác giả ko viết “bị gục xuống” nhưng ông lại viết là “ko bước nữa”, biến các anh từ thế tiêu cực sang chủ động, họ chấp thuận cái chết, coi nó chỉ dễ dãi như 1 giấc ngủ nhưng thôi. “Súng mũ” là biểu trưng của người lính, cho thấy rằng dù có ra đi, các anh vẫn ko quên mình vẫn là 1 người lính, dù có gục cũng phải “gục lên” súng mũ của người lính, tư thế hi sinh đầy xót xa nhưng mà cũng thật hào hùng. Hình ảnh về người lính quả cảm hy sinh đó sau này ta còn bắt gặp trong “Dáng đứng Việt Nam”:

“Và anh chết khi mà đang đứng bắn
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”

Dáng của các anh quân nhân cụ Hồ dù có gục xuống nhưng mà vẫn ko phai mờ trong tâm của Quang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của cả những người tham dự kháng chiến. Họ đã hy sinh trên chặng đường hành binh, đã có những người lính nằm xuống, rõ ràng súng đã nổ, người dân Việt Nam cũng đổ máu, chiến tranh chẳng hề là trò đùa, có người ra đi thì có người hi sinh, ấy là điều hết mực phổ biến. Người lính ra đi nhưng mà đồng chí anh lại tiếp bước. “Quên mất đời” là cách nói giảm nhẹ sự mất mát, thương hải tang điền. Khi người lính qua đời, cái chết hiện giờ phát triển thành ko đáng kể. Cách nói giảm phần thê lương nhưng gia tăng cái thuộc tính cao cả, sự hy sinh âm thầm của những người lính Tây Tiến. Thông qua lăng kính lãng mạn của tác giả thì sự hi sinh đó hiện về chỉ như giấc ngủ của người lính. Ông thật tài tình lúc mô tả cái chết của người lính nhẹ tựa hồng mao. Nhưng dù vậy nào vẫn chẳng thể diễn đạt hết được sự xót xa, tiếc thương, thành ra tác giả đành bùi ngùi đặt dấu chấm cảm “!” cuối câu như 1 nén nhang tâm tư gửi lại.

​Khó khăn chưa ngừng lại ở ấy, đất Tây Bắc đâu chỉ có đèo cao dốc thẳm hay mưa nghìn suối lũ nhưng còn biết bao thách thức gieo neo hơn. Chặng đường hành binh của các anh qua núi rừng Tây Bắc đầy hoang dã, bí mật, chừng như là để thách thức bước chân của người lính :

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Quang Dũng đã chọn ra 2 mốc thời kì là “chiều chiều” và “đêm đêm”, đây là thời khắc biểu thị rõ nhất sự nguy nan của chốn rừng núi Tây Bắc, và sự nguy nan đó cứ tuần hoàn, tuần hoàn, mỗi ngày các anh đều phải đối diện với những gieo neo, nguy hiểm như thế. Các anh phải thường xuyên hành binh qua những mảnh đất rừng thiêng nước độc bởi thế bị ám ảnh trong tâm hồn là tiếng thác nước gầm thét dữ dội. Ở nơi bóng gió, tự nhiên làm chủ thì gieo neo như gia tăng bội phần. “Mường Hịch” với sức nặng dồn vào từ “Hịch” trình bày bước chân nặng trịch có bóng cọp vờn người, cọp ăn thịt người, cọp xé xác người, cọp làm thịt người. Nhưng nhìn nhận quan khả năng của người lính thì bóng nổ đó chỉ thuần tuý là trò đùa trẻ em, điều này được trình bày qua từ “trêu” để thách thức sự gan góc, độ bền gan của các anh quân nhân cụ Hồ nhưng thôi.

​Và ở những câu thơ này, tác giả miêu tả rất chân thật, dù chúng ta ko sống ở thời đoạn này, chúng ta vẫn chưa từng đặt chân lên núi non miền Tây, chưa tòng ngũ vào đoàn binh Tây Tiến. Nhưng đọc tác phẩm ta thấu hiểu được gian khó nhưng người lính trải qua. Để khép lại khổ 1, thi sĩ đã xong xuôi bằng 2 câu thơ đầy xúc cảm nhớ thương, nỗi nhớ đó phả vào bản làng Tây Bắc thân thương:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”​

Lần thứ 2 trong bài thơ, tác giả gọi tên đơn vị Tây Tiến, phải chăng ông nhớ quá những gieo neo, kỉ niệm gắn bó với các đồng chí của mình trong suốt những 5 tháng kháng chiến cùng nhau nên Quang Dũng mới thốt lên “nhớ ôi Tây Tiến” tương tự. Sau chặng đường hành binh nặng nhọc, mỏi mệt các chiến sĩ có cơ hội ngừng chân dựng trại ở 1 bản làng có tên hết mực thân thương-Mai Châu. Ở đây các thanh nữ dân tộc trẻ trung xinh đẹp mang cơm nếp thơm lên cho các anh, cùng các anh quay quần ngồi bên nồi xôi nếp khiến bao lăm nặng nhọc, gieo neo đều tan biến. Đây là quang cảnh đặm đà tình lang dân, chiến tranh lùi dần vào trong 1 góc khuất nào ấy nhường chỗ cho 1 cảnh sinh hoạt vui mừng. Sau thời kì dài hành binh nặng nhọc giữa núi rừng phải chịu đói, chịu khát. Nay các anh được đồng bào Mai Châu đón chào bằng “cơm lên khói” cùng mùi hương “thơm nếp xôi” thật là ấm lòng. Quang Dũng đã dùng từ “mùa em”trình bày sự gần cận, thân yêu và nó gắn bó như “tình em”, các anh quân nhân cụ Hồ nhớ những vụ mùa, nhớ cơm nếp thơm và nhớ cả những bóng hồng miền sơn cước.

Bài thơ “Tây Tiến” dưới ngòi bút của lãng mạn, trữ tình của Quang Dũng đã biến thành 1 tuyệt tác của mọi thời đại. Cảm hứng chủ quản xuyên suốt bài thơ ấy là cảm hứng về nỗi nhớ. Quang Dũng đã mô tả nỗi nhớ ấy bằng ngòi bút tài tình giàu chất nhạc, chất họa và đậm chất thơ. Bài thơ là 1 khúc nhạc của tâm hồn, của cuộc sống. Cho nên, Xuân Diện thật chuẩn xác lúc cho rằng đọc bài thơ “Tây Tiến” như đang ngậm âm nhạc trong mồm. Bài thơ hay bởi lẽ nó được viết nên từ ngòi bút hào hoa, lãng mạn và của 1 người lính Tây Tiến nên nó có 1 cái rất riêng và đẹp. Mang chất lính nên Quang Dũng mới có thể viết nên những vần thơ hay như thế.

.


 


Trích nguồn: TH số 2 Tân Thủy
Danh mục: Tổng hợp

Nguyễn Thị Lan Nhung

Nguyễn Thị Lan Nhung là một giáo viên dạy giỏi có tiếng ở Quảng Bình. Cô đã có hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy Không chỉ giảng dạy trực tiếp, cô đã có 9 năm dạy học Online. Học sinh khắp cả nước có thể theo dõi những bài giảng của cô mọi lúc, mọi nơi.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button