Âm nhạc lớp 2

Truyện ngắn Làng

Tình yêu làng quê và lòng yêu nước cũng như ý thức kháng chiến của người dân cày Việt Nam phải rời làng đi di tản đã được khắc họa sống động qua hình ảnh ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân.

Bạn đang xem bài: Truyện ngắn Làng

Dưới đây là tài liệu giới thiệu về nhà văn Kim Lân cũng như truyện ngắn làng, mời quý độc giả cùng tham khảo  nội dung cụ thể được chúng tôi đăng tải ngay sau đây.

Truyện ngắn Làng

Nghe truyện ngắn Làng:

Tối nào cũng vậy, cứ tới khi con nhỏ bự ông Hai thu que đóm cháy lập lòe trong chiếc nón rách tất tưởi đi từ nhà bếp lên, và bà Hai ngồi ngây thuỗn cái mặt trước đĩa đèn dầu lạc, lầm bầm tính toán những tiền cua, tiền bún, tiền chuối, tiền kẹo… thì ông Hai vùng dậy, sang bên bác Thứ chuyện trò. Không hiểu sao cứ tới khi đấy ông Hai lại thấy buồn. Nằm nghe tiếng súng dội trong ban đêm và nhất là cái tiếng rầm rì tính toán tiền bạc của mụ vợ, thiên nhiên ông sinh ra nghĩ ngợi vẩn vơ, nó bực dọc làm sao đấy. Nhưng mà ông, thì ko thích nghĩ ngợi như thế 1 tí nào. ông vốn là người hay làm, ở quê ông làm suốt ngày, ko mấy khi chịu ngơi chân ngơi tay. Không đi cày đi cuốc, ko gánh phân tát nước thì ông cũng phải bày biện ra công tác gì để làm: đan rổ, đan rá hay chữa cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp. Từ ngày di tản lên đây, suốt ngày mấy bố con nhong nhóng ngồi ăn, tối tới lại nghe những tiếng rầm rì tính toán đấy, gan ruột ông cứ hot lên như lửa đốt. Ông phải đi chơi cho khuây khỏa. Lần nào cũng như lần nào, cứ vừa nhô đầu qua cái mái lá bên gian bác Thứ là ông lão hỏi ngay: “Thế nào, bữa nay có gì ko bác?” Không đợi giải đáp, ông lão nói luôn:

– Này Đácgiăngliơ nó lại về Pháp ấy nhé. Hừ, chơi vào! Còn là đi đi về về!

Hoặc:

– Báo Cứu quốc bữa nay nghe sướng quá. Cụ Hồ đối đáp với các nhà báo ngoại bang đâu vào ấy. Rắn rỏi nhưng mà mềm dẻo lắm. Cụ bảo rằng thìa là dân ta chỉ muốn Độc lập và Thống nhất thôi, ko thì dân ta đánh tới cùng. Thật ấy, chuyến này ko được Độc lập thì chết cả đi chứ sống làm gì cho nó nhục. Nhưng mà có lúc nào mình lại ko Thống nhất, Độc lập được hở bác? Rồi ông nhắc đến chuyện di tản, chuyện Tây khủng bố, truyện Việt gian, chuyện thổ phỉ… những chuyện ông lượm được hồi trưa, ở ngoài điếm. Cả chuyện chính trị, quân sự nữa. Ta sắp xếp nó thế này, ta sắp xếp nó thế kia. Ta chính trị nó thế này, ta chính trị nó thế khác. Rất trơn tuột, rất thuần thục nhưng không đâu vào đâu cả. Ông lão kéo dài 1 bên ria mép ra, mủm mỉm:

– Cũng là học lóm cả thôi ấy bác ạ… Chả là tôi cũng là phụ lão cứu quốc nhưng… Và , lúc câu chuyện tin tức hàng ngày đã nhạt rồi, thì ông xoay tới chuyện cái làng của ông. Ông chuyện trò về cái làng đấy 1 cách đam mê và nô nức lạ lùng. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt lay động, hoạt động. Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền lạc quan phổ quát nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.

Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió thả phanh đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn ko dính tới gót chân. Tháng 5 ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, ko có lấy 1 hạt thóc đất. Ông Hai vẫn có tính khoe làng như thế bấy lâu. Hồi còn đế quốc Pháp, mỗi bận đi đâu xa, khoe làng ông chỉ khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông. Ông có vẻ hãnh diện cho làng có được cái sinh phần đấy lắm: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào nhưng mà được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi. Có lăm lắm là của. Vườn hoa, cây cảnh nom như động đấy. Thđấy bảo còn hơn cái lăng cụ thiếu Hà Đông nhiều mà lại!” Mỗi bận có khách bên họ ngoại ở dưới tỉnh Nam lên chơi, thế nào ông lão cũng phải dắt ra xem lăng cho kì được. Ông mê mệt giải thích cho họ: cái tượng đá này là ông Hoàng Thạch Công đánh rơi giày. Những người bằng sứ kia là bát tiên quá hải. Cái ông đắp bằng xi măng thù lù ở giữa hồ bát giác kia tà tà… lấy kiểu tận xa lắm, đâu như tận bên chùa Đế Thích. Còn như cái cọc sắt nhọn hoắt cắm vào cái bầu rượu có đắp 4 con dơi quét vôi vàng mãi tít trên ngọn sinh phần kia là máy thu lôi. Khiếp lắm! Sấm sét là thu tất cả vào trong đấy.

– Chả nguyên là “cụ tôi” phòng sau này nằm xuống xấu số sét có đánh phải cũng ko việc gì nhưng. Xem! Trí lực của người ta có khiếp ko?

Ông lão vừa nói vừa nhìn vào cái khuôn mặt mừng tuổi của người bà con họ bên ngoại giãn ra vì ngạc nhiên đấy nhưng ông lão hỉ hả cả lòng. Ông thấy cái lăng mộ đấy 1 phần như có ông. Nhưng từ ngày khởi nghĩa thì người ta ko còn thấy ông đả động gì tới cái lăng đấy nữa. Ông đã bảo ông thù nó mà lại. Cái lăng đấy nó làm khổ ông, nó còn làm khổ bao lăm người làng này nữa. Xây cái lăng đấy cả làng hầu hạ, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. Có người ốm, có người chết, có người làm mấy tháng trời ko được đồng công nào. Cái chân ông đi cà nhắc hiện giờ cũng vì cái lăng đấy. Ông bị 1 chồng gạch đổ vào bại 1 bên hông. Hiện giờ khoe làng, ông lão lại khoe khác. Ông khoe những ngày khởi nghĩa dập dồn ở làng, nhưng ông gia nhập phong trào từ thời đoạn còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập 1 2. Mỗi lần hô động tác, anh đào tạo viên lại phải đệm tiếng ạ… thườn thượt đằng sau: “Nghiêm ạ!… Nghỉ ạ!… Vác súng lên vai ạ!…”. Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì làm thuê trình ko để đâu hết. Ông lão kể rành rẽ từng cái 1. Cái thì đắp ở đầu xóm Ba Khu, cái thì xây ở Ngõ Mái, cái thì xẻ thông từ đầu phố trên tới tận đầu phố dưới. Cửa mạch nhà nào cũng đục, có thể đi suốt làng chẳng phải ra tới đường cái. Cũng có lúc ông lão lại ngùi ngùi kể lại những chuyện ngày xửa ngày xưa nào ko biết, ông bị bọn hương lý trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu bạt đi, lang thang hết nơi này tới nơi khác, lần mò vào tới tận đất Sài Gòn, Chợ Béo kiếm ăn. Ba chìm 7 nổi mười mấy 5 trời mới lại được trở về quê hương bản quán. Cứ tương tự, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén quần lên tận bẹn trên chiếc chõng tre nhà bác Thứ nhưng nói liên hồi hết cái đường xóm kia tốt, cái giếng xóm kia trong với những chuyện đẩu chuyện đâu về cái làng của ông lão, làm như bác Thứ cũng quen biết và bận lòng tới những thứ đấy lắm. Thực ra ông lão chỉ nói cho sướng mồm và đỡ nhớ cái làng của ông chứ cũng không để ý gì tới người nghe có thích nghe lắm ko. Đôi lúc thấy mình mãi nói quá, nhưng bác Thứ nghe đâu lơ đễnh những đâu đâu, ông lão lại nhắc:

– Cậu vẫn nghe ấy chứ? Thì bác Thứ giật thột, giải đáp vội vã:

– Có! Có! Tôi vẫn nghe đây, ông kể nốt đi… Thế là ông lão lại kể. Nhưng cũng có nhiều bận đang ngồi nói mãi mê tương tự bỗng nhiên ông ngắc lại, mặt ông thần ra, ông nghĩ ngợi 1 khi lâu rồi rủ rỉ:

– Chuyến này bước chân ra đi… 5 5, 3 5 hay mươi mười lăm 5, ko biết có còn về được tới làng tới nước nữa ko đây. ông lão yên lặng, thở dài:

– Nó chết 1 cái nhà tôi neo bấn quá, phải đi, chứ những như 1 mình tôi, thì tôi ở lại làng với anh em cơ ấy. Quê cha đất tổ 1 khi đứt ruột đứt gan bỏ đi làm gì nhưng ko chua xót hả bác?…

Thực tình ông Hai ko muốn di tản lên trên này 1 tí nào. Trong làng còn có 1 số anh em ở lại, họ quây quần với nhau khoảng chừng 5, 6 nóc nhà giữa làng. Ngày ngày cùng anh em đi đào đường đắp ụ, công tác ngổn ngang, ông chẳng còn kịp nghĩ gì tới vợ con, nhà cửa nữa. 5 7 lần bà Hai nhắn về thúc phải lên ngay, ông chỉ nhăn mặt kêu: “Công tác đang như lửa đốt thế này đã lên thế nào được”. Hôm bà Hai về đón, ông lão lại toan ko đi. Ông nghĩ: mình sinh sống ở cái làng này từ tấm nhỏ đến nay. Cha ông cụ kỵ mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao lăm đời nay rồi. Hiện giờ gặp phải cái khi hữu sự như thế này mình lại đâm đầu bỏ đi còn ra thế nào nữa. Công tác là công tác chung chứ của riêng mình người nào? Ông lão bảo vợ:

– Tôi thì tôi ko đi được đâu. Mẹ con mày trên đấy liệu bảo nhau xoay xỏa nhưng làm ăn. Ở nhà rồi tôi cũng cố cấy cày, thêm thắt vào tôi gửi lên cho, di tản thì cũng phải thiếu thốn 1 tí chứ, lại như ngày trước thì có đâu.

Nhưng bà Hai khóc lóc, bà nài nỉ bắt ông phải đi, bà bảo:

– Thế ông định bỏ mẹ con tôi chết đói à? Ông phải lên coi ngó chúng nó cho tôi xoay xỏa chứ. Rồi bà khẩn khoản nói với mọi người, khẩn khoản với đồng đội thôn đội trưởng, mọi người đồng ý để ông Hai đi, ông Hai đành phải nghe theo. Ông buồn khổ lắm, nhưng mà cũng ko biết làm thế nào. Cảnh ngộ mẹ con chúng nó quả là có gian khổ thật. 1 nách 3 đứa con dại, vốn liếng lại chẳng có, cứ nhong nhóng ôm con ở nhà thì lấy gì nhưng ăn? Nhà có người con trai nó như nhà có nóc đấy. Ông lên rồi làm mướn làm công thêm cặp vào cũng đỡ vực được nhiều ít. “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì di tản âu cũng là kháng chiến”…

Những ngày đầu ở trên này công tác ko có, trong người ông lão khi nào cũng bực bõ. Ông ít nói, ít cười, cái mặt khi nào cũng hầm hầm. Xin được miếng đất sau nhà, ông hậm hụi cuốc xới suốt ngày, vừa được mấy luống rau cải, bén chân thì đàn gà nhà chủ ra vặt trụi tiệt. Ông lão cáu lắm. Không thể cáu được với người nào ông quay ra cáu với vợ con. Hơi 1 tí là ngắt, hơi 1 tí là chửi, lắm lúc chuyện không đâu vào đâu, ông cũng khơi ra cho phệ để gây lộn. “Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì làm thịt hết, ông thì làm thịt hết!”. Mỗi lần ông lão bước chân ra khỏi cái gian nhà tối thấp ngổn ngang những bồ, bị, nồi, niêu, và những dây áo quần ẩm sì đấy là mặt ông lão nhẹ nhàng, tươi tắn hẳn lên. Sao nhưng ông lão sợ cái gian nhà đấy thế! Nhất là những buổi trưa im ắng, oi ả, có tiếng mụ chủ nhà nói léo nhéo ở bên ngoài, thì ông lão ko sao chịu được. Ông lão phải đi cho nó khuất. Ông Hai chưa thấy người phụ nữ nào tham lam, tinh khôn như mụ ta. Người thì gày gò như thanh củi khô. Cái mồm mỏng lèo lèo, nói cứ liến đi, nhưng chúa thần là gian. Không vào nhà thì thôi, động vào nhà là nhòm.

Mụ nhòm xó này 1 tí, nhòm xó kia 1 tí, rồi lục. Mụ giơ lọ tương lên ngắm rồi đặt xuống, mụ mở thạp gạo ra xem, lại đậy vào, mụ lục bồ moi chiếc áo ra ướm thử vào người, rồi ném trả. Dường như trong ý mụ, mụ nghĩ: chúng mày ở nhà tao, thì những thứ của chúng mày cũng như của tao. Đồ ăn thức đựng của mụ, mụ cất kỹ đi. Con dao, cái chậu, bó củi của người ta mụ dùng thiên nhiên, hồ cất đi, mụ lại lôi ra. Không tìm thấy thì mụ nói khịa, nói máy như chính mụ bị người ta hiếp đáp. Tới cả cái ăn, cái uống mụ cũng rây phần vào. Có cái nồi nước tiểu sắm để tăng gia 1 tí, mụ cũng lấy hết. Trong nhà động có thức gì mụ đã biết rồi. Không 1 hôm nào bà Hai ở quán về mụ ko sấn tới vạch thúng ra xem.

– Chu cha! Nhà này có mớ cá ngon gớm, chiều tớ phải xin 1 bát mấy được. Thế là chiều mụ sai con bưng bát tới xin. Mụ đẩy lưng thằng nhỏ:

– Con cứ xuống nhưng xin, tội gì. Có cái gì ăn giấu, nhưng mụ biết thì mụ đánh hơi. Mụ đứng giữa nhà, hếch cái mũi lên hít hít:

– Có cái gì nhưng thơm gớm, y như mùi bánh chiên đấy anh em ạ. Mẹ kiếp nhà này nó giấu. Cứ lâu lâu, mụ lại vay tiền. Khi sắm trầu vỏ, khi sắm diêm thuốc, mớ rau, con cá… Có đòi thì mụ chủng chẳng:

– Tớ trừ vào tiền thuê nhà ấy. Mụ cười rất nhạt:

– Nói đùa ấy chứ, mai tớ cuốc mẻ sắn tớ bán tớ khắc trả. Và mụ tiếp luôn:

– Này, nói thì bảo là tham, cái nhà ông Hai này, với bác Thứ bên kia ở, thật tớ đếch được cái gì, ở xóm dưới, cánh hàng xáo họ ở, họ nuôi lợn được thiếu gì là “khuẩn”. Nói thật, tớ cho ở nhờ chỉ chủ có mỗi cái “khuẩn” thôi…

Ngay từ dạo mới lên, ông Hai đã bực mình với mụ đấy lắm rồi. Nghe xóm giềng ở đây người ta nói, ông biết mụ chẳng phải là người đứng đắn. Mụ lấy tới người chồng này là đời chồng thứ 3 rồi; 2 người trước, người thì người ta bỏ mụ, người thì mụ bỏ người ta. Tâm tính lành chanh lành chói, chỉ ăn hiếp chồng. Người chồng thì lại hiền hậu quá, cả ngày hặm hụi làm. Vợ nói, có tức lắm thì cũng chỉ đỏ mặt lên văng tục văng giác mấy câu rồi thôi. Ông Hai ghét mụ chủ lắm. Ông ko muốn ở chung ở chạ với những người như thế. 5 lần 7 lượt ông bảo vợ dọn nhà đi nơi khác. Nhưng bà Hai cứ lần chần. Bà bảo:

– Biết rằng đâu hơn đâu, hay là lại quá tội. Trong làng ngoài phố nhà nào cũng 3 4 bếp di tản cả. Có được chỗ chui ra chui vào như thế này là may mắn lắm rồi còn gì nữa. Ông lão đành phải dùi dắng chờ vậy.

Buổi trưa hôm đấy ông Hai ở nhà 1 mình. Con nhỏ bự gánh hàng ra quán cho mẹ chưa thấy về. Hai đứa nhỏ thì ông cắt chúng nó ra vườn trông mấy luống rau mới cấy lại chẳng gà vặt hết. Ông Hai hì hục vỡ 1 vạt đất rậm, ngoài bờ suối từ sáng đến nay, ông tính để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang 5. Có 1 mình, ông phải làm cố, 2 vai mỏi nhừ. Ông nằm vật lên giường vắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ tới những ngày cùng làm với anh em. A, sao nhưng độ đấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra. Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc mê mệt suốt ngày. Trong lòng ông lão lại thấy nô nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí hiểm chắc là còn khướt lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà trưa cất lên eo óc. Gian nhà càng như lịm đi, mờ mờ hơi đất. Giờ này là mụ chủ sắp đi làm ruộng về đây. Ông lại sắp phải nằm trong này nhưng nghe mụ chửi con mắng cái, kêu vại nước chóng cạn, cái bếp bừa bộn léo nhéo lên đây. Tấm liếp che cửa bỗng kêu lạch xạch, gian nhà sáng bừng lên. Ông Hai giật thột, ngách đầu nhìn ra. Đứa con gái bự gồng đôi thúng ko bước vào. Ông cất tiếng hỏi:

– Ở ngoài đấy làm gì nhưng lâu thế mày?

Không để đứa con kịp giải đáp, ông lão nhỏm dậy vơ lấy cái nón:

– Ở nhà trông em nhá! Đừng có đi đâu ấy. ông lão giơ tay chỉ lên nhà trên:

– Nó thì rút ruột ra, biết chửa! Dứt lời ông bước vội ra ngoài. Trời xanh lồng lộng, có những tảng mây sáng chói, lờ đờ. Đường vắng hẳn người qua lại. Họ rạt cả vào các khoảnh bóng cây tránh nắng. 1 vài tiếng động nhẹ khẽ gợn lên, oi ả. Ông Hai đi ngông nghênh giữa đường vắng, cái đầu cung cúc lao về phía trước. Hai tay vung vẩy, nhấp nhỏm. Gặp người nào quen ông Hai cũng níu lại cười cười:

– Nắng này là bỏ mẹ chúng nó! Có người bỡ ngỡ hỏi lại: “Chúng nó nào?”. Thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về phía tiếng súng:

– Tây đấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong địa điểm giờ bằng ngồi tù. Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang bận nhiều công tác lắm. Cũng như mọi hôm, việc trước hết là ông vào phòng thông tin nghe đọc báo. Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lóm. Điều này ông khổ tâm vô cùng. Ông cũng đã có học được 1 khóa bình dân học vụ ở làng, cũng đã biết đọc, biết viết. Nhưng chữ in khó nhận diện chữ, ông đọc nó cứ lõm bõm, câu được câu chăng, nhưng chả lẽ cứ nghếch cổ lên giữ chịt lấy tờ báo ko cho người khác xem nữa? Ông ghét thậm những anh cậy ta đây lắm chữ đọc báo lại cứ đọc thầm 1 mình, ko đọc ra thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy. Bữa nay may quá, vớ được anh dân binh đọc rất phệ, dõng dạc, rành rẽ từng tiếng 1, cơ chừng anh ta cũng mới học, đánh vần được chữ nào anh ta đọc luôn chữ đấy. Ông lão nghe chẳng sót 1 câu nào. Bao nhiêu là tin hay.

– 1 em bé trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kỳ lên Tháp Rùa. “Đó, cứ kêu chúng nó trẻ em mãi đi, liệu đã bằng chúng nó chưa?” 1 anh trung đội trưởng sau lúc làm thịt được 7 tên giặc đã tự tử bằng 1 quả lựu đạn . Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người đi sắm hàng đã bắt sống 1 tên quan 2 bốt Thao ngay giữa chợ. “Khiếp thật, tinh những người tài ba cả”. Lại còn bao lăm tin đánh úp nữa, chỗ này làm thịt được 5 Pháp với 2 Việt gian; chỗ kia phá đổ được 1 xe tăng và 1 xe díp. “Cứ thế, chỗ này làm thịt 1 tí, chỗ kia làm thịt 1 tí, cả súng ống cũng vậy, bữa nay dăm khẩu, tương lai dăm khẩu, tích tiểu thành đại làm gì nhưng rồi thằng Tây ko bước sớm”. Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá! Ông lão nô nức bước ra khỏi phòng thông tin, rẽ vào quán dặn vợ mấy việc rồi đi thẳng ra lối huyện cũ. Ở đây, những tốp người di tản mới ở dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố cả ở dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá rườm rà ken vào nhau, rải xuống mặt đường và bãi cỏ 1 vùng bóng mát rộng. Ông lão ngồi vào 1 cái quán gần ấy. Hút 1 điếu thuốc lào, uống 1 hụm chè tươi hot, ông nhóp nhép cái mồm ngẫm nghĩ: bao lăm ý tưởng vui thích chen chúc trong đầu óc. Tiếng quạt, tiếng thở, tiếng trẻ em khóc, cộng với tiếng cười nói của cánh đi phá đường về râm ran 1 góc đường. Dưới chân đồi, những thửa ruộng lúa xanh mượt, uốn vòng vèo dưới trời nắng, lấp loáng như 1 khúc sông. Có mấy bóng cò trắng bay dật dờ…

– Các ông các bà ở đâu ta lên ấy ạ? Ông Hai đặt bát nước xuống chõng hỏi. 1 người phụ nữ mau mồm giải đáp:

– Thưa ông chúng cháu ở Gia Lâm lên ấy ạ. Đi 4 5 hôm mới lên tới đây nặng nhọc quá!

– Ở Gia Lâm lên ạ? Lúa má dưới ta thế nào, liệu có cấy được ko bác?

– Chả cấy thì lấy gì nhưng ăn. Cấy tất ông ạ. Chân ruộng dưới chúng cháu còn tốt hơn trên này nhiều.

– Thì vưỡn! Lúa dưới ta vưỡn tốt nhiều chứ.

Ông lão rít 1 hơi thuốc lào nữa, gật gù cái đầu:

– Hừ, loạn đả cứ loạn đả, cấy cày cứ cấy cày, di tản cứ di tản… Hay đáo để.

– Này bác có biết mấy bữa nay súng nó bắn ở đâu nhưng nghe rát thế ko?

1 người phụ nữ cho con bú mé bên kia nói xen vào:

– Nó rút ở Bắc Ninh về qua chợ Dầu nó khủng bố ông ạ.

Ông Hai quay phắt lại lắp bắp hỏi:

– Nó… Nó vào chợ Dầu hở bác? Thế ta làm thịt được bao lăm thằng? Người phụ nữ ẵm con cong môi lên đỏng đảnh:

– Có làm thịt được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn làm thịt gì nữa. Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như tới nghẹt thở. 1 khi lâu ông mới rặn è è, nuốt 1 cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:

– Liệu có thật ko hở bác? Hay là chỉ lại…

– Thì chúng tôi vừa ở dưới đấy lên đây nhưng mà. Việt gian từ thằng chủ tịch nhưng đi cơ ông ạ. Tây vào làng chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra tung hô. Thằng chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xe cam nhông, đưa vợ con lên địa điểm với giặc ở ngoài tỉnh nhưng mà. Có người hỏi:

– Sao bảo làng chợ Dầu ý thức lắm mà lại?…

– Đó thế nhưng hiện giờ đổ đốn ra thế ấy!

Ông Hai thanh toán nước, đứng dậy, chèm chẹp mồm cười nhạt 1 tiếng, vươn vai nói phệ:

– Hà, nắng gớm, về nào…

Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới di tản lên đấy vẫn dõi theo. Ông nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người phụ nữ cho con bú:

– Cha mẹ tiên nhân nhà chúng nó! Đói khổ ăn trộm trộm cắp bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa 1 nhát!

Ông Hai cúi gằm mặt xuống nhưng đi. Ông thoáng nghĩ tới mụ chủ nhà. Về tới nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố bữa nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau. Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra… Chúng nó cũng là trẻ em làng Việt gian ấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hất hủi ấy ư? Khốn nạn, bằng đấy tuổi đầu… ông lão nắm chặt 2 tay lại và rít lên:

– Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng nhưng đi làm cái giống Việt gian bán nước để điếm nhục thế này! Ông lão bỗng dừng lại, ngờ ngợ như lời mình nói ko được đúng lắm.

Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn tới thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không nhưng, họ toàn là những người có ý thức cả nhưng. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm 1 sống 1 chết với giặc, có chẳng lẽ lại can tâm làm điều điếm nhục đấy!… Nhưng sao lại nẩy ra cái tin tương tự được? Nhưng mà thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng ko sai rồi. Không có lửa thì sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện đấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Một mai biết làm ăn, giao thương ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta giao thương mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta kinh tởm, người ta hằn thù cái giống Việt gian bán nước… Lại còn bao lăm người làng, tan tác mỗi người 1 phương nữa ko biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?… Chiều hôm đấy bà Hai về cũng có vẻ khác. Bà bước uể oải, cái mặt cúi xuống lần thần. Đôi quang thúng thõng thẹo trên 2 mấu đòn gánh. Bà đi thẳng vào trong nhà lụi hụi xếp hàng vào 1 xó, rồi lẳng lặng ra bậc cửa ngồi ôm má nghĩ ngợi. Trẻ con cũng ko đứa nào dám vòi quà. Trong nhà có cái yên lặng thật là khó chịu, ko người nào dám cất tiếng lên nói, cả tới nhìn nhau họ cũng ko dám nhìn nhau nữa. Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lẳng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền đỗ, tiền kẹo… Vẫn cái giọng rầm rì, rầm rì thường nhật.

– Này thầy nó ạ.

Ông Hai nằm rũ ra trên giường ko nói gì.

– Thầy nó ngủ rồi à?

– Gì? Ông lão khẽ động đậy:

– Tôi thấy người ta đồn…

Ông lão gắt lên:

– Biết rồi!

Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt. ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo lắng của bà lão. Tiếng thở của 3 đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhõm nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.

– Thế nhưng mà người ta đồn trên này người ta ko chứa những người chợ Dầu nữa thầy nó ạ.

Nghe ngóng 1 chút, ko thấy chồng giải đáp, bà lão lại cúi xuống lầm bầm tính. Nét mặt bà lặng đi, chịu đựng và nhẫn nhục. Bên gian bác Thứ đã ngủ từ lâu, xung quanh đều yên lặng… 1 vài tiếng chó cựa quậy sủa phía xa, và có tiếng trẻ khóc vang vọng trong tiếng gió. Ông Hai vẫn trăn trở ko sao ngủ được. Ông hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài. Chợt ông lão lặng hẳn đi, tay chân nhũn ra, tưởng hình như ko cất lên được… Có ngôn ngữ léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ… Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì nhưng xạc xào thế? Trống ngực ông lão đập thình thịch. Ông lão nín thở, lắng nghe nghe ra bên ngoài… Bà Hai bỗng lại cất tiếng:

– Thầy nó ngủ rồi ư? Dậy tôi bảo cái này đã.

Ông Hai bật ngách đầu dậy, giơ tay trỏ lên nhà trên, ông sít 2 hàm răng lại nhưng nghiến:

– Im! Khổ lắm! Nó nhưng nghe thấy lại ko ra cái gì hiện giờ. Ông lão lại ngả mình nằm xuống, ko động đậy.

Đã 3 4 bữa nay, ông Hai ko bước chân ra tới ngoài, cả tới bên bác Thứ ông cũng ko dám sang. Suốt ngày ông chỉ quẩn quanh ở trong cái gian nhà chật chội đấy nhưng nghe ngóng. Nghe ngóng xem binh tình bên không những thế sao? 1 đám đông xúm lại ông cũng chú tâm, dăm 7 tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ. Khi nào ông cũng thom thóp tưởng như người ta đang chú tâm, người ta đang bàn tán tới “cái chuyện đấy”.

Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là ông lủi ra 1 góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện đấy rồi! Nhưng còn cái này nữa nhưng ông sợ, có nhẽ còn ghê hơn cả những tiếng kia nhiều. Đó là mụ chủ nhà. Từ ngày xảy ra chuyện đấy, nghe đâu mụ ta lấy điều khiến cho vợ chồng ông khổ ngấm khổ ngầm là mụ thích. Sáng chiều 4 buổi đi làm ruộng về, mụ kéo lê cái nạo cỏ quèn quẹt dưới đất, qua cửa, mụ nhòm vào nói những câu xa xôi bóng gió, như khía vào thịt ông lão. Thôi thì hiện giờ thế nào nhưng chả phải chịu. Có được chỗ chui ra chui vào là may lắm rồi. Mỗi lần mụ nói, ông lão chỉ cười gượng gập làm như ko biết chuyện gì. Ông thì muốn lặng đi như thế, nhưng mà mụ chủ nhà có để cho ông yên đâu. Sáng bữa nay khi bà Hai sắp sửa gánh gồng ra hàng thì mụ chủ nhà ko biết đi đâu về, mụ đứng dạng háng ở ngoài sân nói chõ vào:

– Bà lão chưa đi hàng cơ à? Muộn mấy?…

– Chưa bà ạ. Mời bà vào chơi trong này!

– Vâng bà để mặc em… À, bà Hai này!… Mụ chạy sát vào bực cửa, thân tình:

– Trên này họ đồn giăng giăng ra rằng thìa là làng dưới nhà ta đi Việt gian theo Tây ấy, ông bà đã biết chưa nhỉ?… Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng chợ Dầu khỏi vùng này ko cho ở nữa.

Mụ chủ chép mồm, giọng ngọt xớt:

– Em cứ khó nghĩ quá… ông bà cũng là người làm ăn đàng hoàng cả. Nhưng nhưng có lệnh biết làm thế nào. Đành nhẽ là ông bà kiếm chỗ khác vậy… Này, ở với nhau đang vui vẻ, ông bà dọn đi, em lại cứ nhớ đáo để ấy nhớ.

Bà Hai cúi mặt xuống rân rấn nước mắt, bà nói:

– Vâng… thôi thì dân làng đã chả cho ở nữa, chúng tôi cũng đành phải đi nơi khác chứ biết làm thế nào. Nhưng xin ông bà trên đấy nghĩ lại thư thư cho vợ chồng chúng tôi vài 3 hôm nữa. Hiện giờ bảo đi, vợ chồng chúng tôi cũng ko biết là đi đâu…

Mụ chủ đi rồi, bà Hai và con nhỏ bự nước mắt ròng ròng, lẳng lặng gánh hàng ra quán. Vợ chồng cũng chẳng dám nói với nhau câu gì. Ông Hai ngồi lặng trên 1 góc giường, bao lăm ý tưởng ám muội, rùng rợn, nối liền bời bời trong đầu óc ông lão. Biết đem nhau đi đâu hiện giờ? Biết đâu người ta chứa bố con ông nhưng đi hiện giờ?… Thật là tuyệt đường sinh sống! Nhưng mà ko gì cái đất Thắng này. Ở Đài, ở Nhã Nam, ở Bố Hạ, Cao Thượng… đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Nhưng mà cho dẫu vì cơ chế Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mày nào đi tới đâu. “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây…” cái câu nói của người phụ nữ di tản hôm trước lại dội lên trong tâm não ông. Hay là trở lại làng ?… Vừa chớm nghĩ tương tự, tức tốc ông lão phản đối ngay. Về làm gì cái làng đấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng nghĩa là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ… Nước mắt ông giàn ra, về làng nghĩa là chịu quay lại làm bầy tớ cho thằng Tây. Ông lão nghĩ tới mấy thằng kỳ lý chuyên môn khua khoét như thế lại ra vào hách dịch ở trong cái đình. Và cái đình lại như của riêng chúng nó, lại thâm nghiêm gớm ghê, chứa toàn những sự hà hiếp, đè nén. Ngày ngày chúng đóng ra, dong vào, đánh tổ tôm nhưng bàn tư việc làng với nhau ở trong đấy. Những hạng khố rách áo ôm như ông có đi qua cũng chỉ dám liếc trộm vào, rồi cắm đầu xuống nhưng lủi đi. Anh nào ho he, hóc hách 1 tí thì chúng nó tìm hết cách để hại, cất phần ruộng, truất ngôi, trừ ngoại, tống ra khỏi làng…

Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời ám muội, lầm than cũ nổi lên trong ý tưởng ông. Ông chẳng thể về cái làng đấy được nữa. Về hiện giờ ra ông chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:

– Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con người nào?

– Là con thầy mấy lị con u.

– Thế nhà con ở đâu?

– Nhà ta ở làng chợ Dầu.

– Thế con có thích về làng chợ Dầu ko? Thằng nhỏ nép đầu vào ngực bố giải đáp khe khẽ:

– Có. Ông lão ôm khít thằng nhỏ vào lòng, 1 khi lâu lại hỏi:

– À thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ người nào? Thằng nhỏ giơ tay lên, bạo gan và rành rẽ:

– Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn 5! Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên 2 má. Ông nói rủ rỉ:

– Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ. Mấy bữa nay ru rú ở xó nhà, những khi buồn khổ quá chẳng biết nói cùng người nào, ông lão lại rủ rỉ với con tương tự. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại giải oan cho mình nữa. Anh em đồng đội biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ soi xét cho bố con ông. Cái lòng bố con ông là như thế ấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được vài câu tương tự nỗi khổ trong lòng ông cũng vơi đi được vài phần.

Khoảng 3 giờ chiều hôm đấy, có 1 người con trai tới chơi nhà ông Hai. Hắn cũng là người chợ Dầu. Hai người thầm thì ở góc nhà 1 khi lâu rồi thấy ông Hai đóng khăn áo chỉnh tề tất tưởi theo hắn đi. Ông hấp tấp tới quên cả dặn trẻ coi nhà. Ông Hai đi mãi tới xẩm tối mới về. Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Miệng bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy… Vừa tới ngõ ông lão đã lên tiếng:

– Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào. Lũ trẻ ở trong nhà ùa ra, ông lão vội rút cái gói bọc lá chuối khô cho con nhỏ bự:

– Bánh chiên đường đây, chia cho em mỗi đứa 1 cái. Dứt lời ông lão lại lật đật đi thẳng sang bên gian bác Thứ. Chưa tới bực cửa, ông lão đã bô bô:

– Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì ấy! Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông đấy cho biết… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi là Việt gian đấy nhưng. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục tiêu cả.

Bác Thứ chưa nghe thủng câu chuyện ra sao, ông lão đã lại lật đật bỏ lên nhà trên.

– Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính… Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng em Việt gian đấy nhưng. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục tiêu cả!

Cũng chỉ được bằng đấy câu, ông lão lại lật đật bỏ đi nơi khác. Còn phải kể cho người khác biết chứ. Ông lão cứ múa tay lên nhưng khoe cái tin đấy với mọi người. Ai cũng mừng cho ông lão. Tới ngay cả mụ chủ nhà là người ông lão yên trí, nghe tin này thế nào mặt mụ cũng sa sầm xuống nhưng nói tức nói xóc, thì ngược lại, mụ lại tỏ vẻ rất vui sướng. Mụ giương tròn cả 2 mắt lên nhưng reo:

– A, thế chứ! Thế nhưng tớ cứ tưởng dưới nhà đi Việt gian thật, tớ ghét ghê đấy… Thôi, hiện giờ thì ông bà lại cứ ở thiên nhiên chả người nào bảo sao. Ăn hết nhiều chứ ở hết là bao lăm. Mụ cười khì khì:

– Này, rồi cũng phải nuôi lấy con lợn… nhưng ăn mừng ấy! Ông Hai gật gật:

– Được, được, chuyến này rồi phải nuôi chứ…

Tối hôm đấy ông Hai lại sang bên gian bác Thứ, lại ngồi trên chiếc chõng tre vén quần lên tận bẹn nhưng chuyện trò về cái làng của ông. Ông kể lại hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao thằng, bao lăm Tây, bao lăm Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu đâu, và dân binh, tự vệ làng ông sắp xếp, cầm cự ra sao; rành rẽ kĩ càng như chính ông lão vừa dự trận đấu giặc đấy xong thật…

I. Đôi nét về nhà văn Kim Lân

– Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài.

– Quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

– Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có tác phẩm đăng báo trước cách mệnh.

– Vốn gắn bó với nông thôn, các tác phẩm của ông chủ chốt chỉ viết về sinh hoạt làng quê và tình cảnh của người dân cày.

– Ngoài sự nghiệp sáng tác, Kim Lân còn được biết tới với vai trò là 1 diễn viên (vai Lão Hạc trong Làng Vũ Đại ngày đấy, Lý Cựu trong Chị Dậu…)

– 5 2001, ông được trao tặng Gicửa ải thưởng Nhà nước về Văn chương nghệ thuật.

– 1 số tác phẩm điển hình: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)…

II. Giới thiệu về truyện ngắn Làng

1. Hoàn cảnh sáng tác

– “Làng” được sáng tác trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

– Truyện được đăng lần đầu trên báo chí Văn nghệ 5 1948.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

  • Phần 1: Từ đầu tới “Ông lão đành phải dùi dắng chờ vậy”. Cuộc sống của ông Hai ở nơi di tản.
  • Phần 2: Tiếp theo tới “Mỗi lần nói ra được vài câu tương tự nỗi khổ trong lòng ông cũng vơi đi được vài phần”. Diễn biến tâm cảnh của ông Hai lúc nghe tin làng theo giặc.
  • Phần 3. Còn lại. Niềm vui sướng của ông lúc nghe tin cải chính.

3. Tóm lược

Ông Hai là 1 người dân cày rất yêu và kiêu hãnh về làng chợ Dầu của mình. Vì chiến tranh, gia đình ông phải đi di tản. 1 hôm ông nghe tin làng chợ Dầu theo Tây. Tin dữ bất thần khiến ông chẳng thể tin, rồi sau đấy là sững sờ và xót xa. Về nhà, ông nằm vật ra, người nào nói gì cũng tưởng họ bàn tán về làng mình. Ông ko biết nên về làng hay đi tới nơi khác. Sau lúc chuyện trò với thằng đàn ông út, ông Hai quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng mà làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Tới lúc chủ tịch xã lên cải chính làng Dầu ko theo giặc, ông hết sức phấn kích đi khoe với tất cả mọi người.

Xem thêm Tóm lược truyện ngắn Làng 

4. Ý nghĩa đầu đề

Kim Lân là 1 nhà văn chuyên viết truyện ngắn. “Làng” là 1 truyện ngắn điển hình của ông. Khi đặt cho tác phẩm của mình đầu đề này, nhà văn muốn qua đấy gửi gắm nhiều ý nghĩa thâm thúy. Trước tiên, “làng” là 1 từ dùng để chỉ đơn vị hành chính bé nhất nước ta. Khi đặt vào tác phẩm của Kim Lân, nhà văn đã xây dựng được hình ảnh “làng chợ Dầu” – quê hương của ông Hai (đối tượng chính của tác phẩm). Làng Chợ Dầu vốn là 1 làng có ý thức yêu nước, truyền thống cách mệnh. Nhưng ở nơi di tản, ông Hai lại nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây, phản bội lại non sông. Điều đấy khiến ông Hai cảm thấy dằn vặt, chua xót để rồi quyết định: “Làng thì yêu thật nhưng mà làng theo Tây thì phải thù”. Qua đấy, nhà văn khẳng định đối với dân chúng Việt Nam, tình yêu nước – tình cảm chung đã vượt lên trên tình yêu làng – tình cảm tư nhân. Không chỉ vậy, nhà văn còn muốn nhấn mạnh về sự kết đoàn trên dưới 1 lòng của dân chúng Việt Nam. Làng Chợ Dầu chỉ là 1 trong số rất nhiều ngôi làng khác có được ý thức yêu nước, tâm huyết cách mệnh tương tự.

Xem thêm Ý nghĩa đầu đề truyện ngắn Làng 

5. Nội dung

Tình yêu làng và lòng yêu nước, ý thức kháng chiến của người dân cày phải rời làng đi di tản đã được Kim Lân trình bày sống động, thâm thúy trong truyện ngắn Làng.

6. Nghệ thuật

Nhà văn đã hết sức thành công lúc xây dựng được cảnh huống truyện, liên kết mô tả tâm lí và tiếng nói đối tượng….

.


 


Trích nguồn: TH số 2 Tân Thủy
Danh mục: Âm nhạc lớp 2

Nguyễn Thị Lan Nhung

Nguyễn Thị Lan Nhung là một giáo viên dạy giỏi có tiếng ở Quảng Bình. Cô đã có hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy Không chỉ giảng dạy trực tiếp, cô đã có 9 năm dạy học Online. Học sinh khắp cả nước có thể theo dõi những bài giảng của cô mọi lúc, mọi nơi.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button