Âm nhạc lớp 2

Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14

Luật tôn giáo, tín ngưỡng số 02/2016/QH14

Luật Tôn giáo, tín ngưỡng được Quốc hội Khóa XIV phê chuẩn gồm 09 chương, 8 mục, 68 điều, có ý nghĩa đặc trưng quan trọng. Luật quy định về quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng; nghĩa vụ của tổ chức và tư nhân trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng….; cùng lúc Luật tôn giáo, tín ngưỡng cũng là dấu mốc đáng ghi nhận trong công việc điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta. Luật này có hiệu lực ngày 01/01/2018.

Nghị định số 92/2012/NĐ-CP quy định cụ thể và giải pháp thi hành Pháp lệnh tôn giáo, tín ngưỡng

Bạn đang xem bài: Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14

Thông tư 04/2016/TT-BNV chỉ dẫn nội dung về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực tín ngưỡng

QUỐC HỘI
——–
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————
Luật số: 02/2016/QH14 Hà Nội, ngày 18 tháng 11 5 2016

LUẬT
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật tôn giáo, tín ngưỡng.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, nhân vật vận dụng

1. Luật này quy định về quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng; hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng; tổ chức tín ngưỡng; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, tư nhân có liên can tới hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng.

2. Luật này vận dụng đối với cơ quan, tổ chức, tư nhân trong việc đảm bảo và tiến hành quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Điều 2. Gicửa ải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Tôn giáo là niềm tin của con người được trình bày phê chuẩn những lễ thức gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để đem đến sự bình yên về ý thức cho tư nhân và tập thể.

2. Hoạt động tôn giáo là hoạt động thờ tự tổ tông, các biểu trưng khôn thiêng; tưởng vọng và suy tôn người có công với tổ quốc, với tập thể; các lễ thức dân gian điển hình cho những trị giá lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.

3. Lễ hội tôn giáo là hoạt động tôn giáo số đông được diễn ra theo lễ thức truyền thống nhằm phục vụ nhu cầu ý thức của tập thể.

4. Cơ sở tôn giáo là nơi tiến hành hoạt động tôn giáo của tập thể như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng tộc và những cơ sở gần giống khác.

5. Tín ngưỡng là niềm tin của con người còn đó với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm nhân vật tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ thức và tổ chức.

6. Giáo đồ là người tin, theo 1 tín ngưỡng và được diễn ra tín ngưỡng đấy thừa nhận.

7. Nhà tu hành là giáo đồ xuống tóc, thường xuyên tiến hành nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tín ngưỡng.

8. Chức sắc là giáo đồ được diễn ra tín ngưỡng phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức.

9. Chức việc là người được diễn ra tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng bổ nhậm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức phận trong tổ chức.

10. Sinh hoạt tín ngưỡng là việc bộc bạch niềm tin tín ngưỡng, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ thức tín ngưỡng.

11. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động quảng bá tín ngưỡng, sinh hoạt tín ngưỡng và điều hành tổ chức của tín ngưỡng.

12. Tổ chức tín ngưỡng là giáo đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của 1 tín ngưỡng được diễn ra theo 1 cơ cấu nhất mực được Nhà nước xác nhận nhằm tiến hành các hoạt động tín ngưỡng.

13. Tổ chức tín ngưỡng trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tín ngưỡng, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tín ngưỡng.

14. Cơ sở tín ngưỡng gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, hội sở của tổ chức tín ngưỡng, cơ sở hợp lí khác của tổ chức tín ngưỡng.

15. Vị trí hợp lí là đất, nhà ở, công trình nhưng tổ chức hoặc tư nhân có quyền sử dụng hợp lí theo quy định của luật pháp.

16. Người đại diện là người thay mặt và chịu nghĩa vụ trước luật pháp về hoạt động tôn giáo, sinh hoạt tín ngưỡng , hoạt động tín ngưỡng của nhóm người hoặc tổ chức nhưng mình đại diện.

Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng

1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của mọi người; đảm bảo để các tín ngưỡng đồng đẳng trước luật pháp.

2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ trị giá văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, tín ngưỡng, truyền thống thờ tự tổ tông, suy tôn người có công với tổ quốc, với tập thể phục vụ nhu cầu ý thức của Nhân dân.

3. Nhà nước bảo hộ cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng và của cải hợp lí của cơ sở tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng.

Điều 4. Trách nhiệm của Chiến trường Đất nước Việt Nam

1. Tập giao kèo bào theo tôn giáo, tín ngưỡng và đồng bào ko theo tôn giáo, tín ngưỡng xây dựng khối đại kết đoàn toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Đất nước.

2. Phản ánh kịp thời quan điểm, ước muốn, kiến nghị của Nhân dân về các vấn đề có liên can tới tôn giáo, tín ngưỡng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Tham gia xây dựng văn bản quy phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng; phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm luật pháp, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án tăng trưởng kinh tế – xã hội của Nhà nước có liên can tới tôn giáo, tín ngưỡng theo quy định của luật pháp.

4. Tham gia tuyên truyền, chuyển động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, giáo đồ, người theo tôn giáo, tín ngưỡng, các tổ chức tín ngưỡng và Nhân dân tiến hành luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

5. Giám toán hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, nhân viên trong việc tiến hành chế độ, luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

Điều 5. Các hành vi bị ngăn cấm

1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng.

2. Cưỡng ép, sắm chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc ko theo tôn giáo, tín ngưỡng.

3. Xúc phạm tôn giáo, tín ngưỡng.

4. Hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng:

a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền đất nước, thứ tự, an toàn xã hội, môi trường;

b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm cơ thể, sức khỏe, tính mệnh, của cải; xúc phạm danh dự, phẩm chất của người khác;

c) Cản trở việc tiến hành quyền và trách nhiệm công dân;

d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tín ngưỡng; chia rẽ người theo tôn giáo, tín ngưỡng với người ko theo tôn giáo, tín ngưỡng, giữa những người theo các tôn giáo, tín ngưỡng không giống nhau.

5. Lợi dụng hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng để trục lợi.

Chương II

QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Điều 6. Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của mọi người

1. Mọi người có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, theo hoặc ko theo 1 tín ngưỡng nào.

2. Mỗi người có quyền bộc bạch niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng; thực hành lễ thức tôn giáo, tín ngưỡng; tham dự lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tín ngưỡng.

3. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tín ngưỡng, học tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng, lớp bồi dưỡng của tổ chức tín ngưỡng. Người chưa thành niên lúc vào tu tại cơ sở tín ngưỡng, học tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

4. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền tiến hành lễ thức tín ngưỡng, giảng đạo, truyền giáo tại cơ sở tín ngưỡng hoặc vị trí hợp lí khác.

5. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của luật pháp về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành quyết phạt tù; người đang chấp hành giải pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục buộc phải, cơ sở cai nghiện buộc phải có quyền sử dụng kinh sách, bộc bạch niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng.

6. Chính phủ quy định cụ thể việc đảm bảo tiến hành các quyền quy định tại khoản 5 Điều này.

Điều 7. Quyền của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

1. Hoạt động tín ngưỡng theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung gần giống (sau đây gọi chung là hiến chương) của tổ chức tín ngưỡng.

2. Tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng.

3. Xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng.

4. Sản xuất, xuất khẩu, du nhập văn hóa phẩm tín ngưỡng, đồ dùng tín ngưỡng.

5. Cải tạo, tăng cấp, xây dựng mới cơ sở tín ngưỡng.

6. Nhận của cải hợp lí do tổ chức, tư nhân trong nước và tổ chức, tư nhân nước ngoài tình nguyện tặng cho.

7. Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của luật pháp có liên can.

Điều 8. Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam

1. Người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

2. Người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam có quyền:

a) Sinh hoạt tín ngưỡng, tham dự hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng;

b) Sử dụng vị trí hợp lí để sinh hoạt tín ngưỡng ;

c) Mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam tiến hành lễ thức tín ngưỡng, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo;

d) Vào tu tại cơ sở tín ngưỡng, học tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng, lớp bồi dưỡng về tín ngưỡng của tổ chức tín ngưỡng ở Việt Nam;

đ) Mang theo xuất bản phẩm tín ngưỡng, đồ dùng tín ngưỡng để chuyên dụng cho nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng theo quy định của luật pháp Việt Nam.

3. Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tín ngưỡng hoặc vị trí hợp lí khác ở Việt Nam.

Điều 9. Nghĩa vụ của tổ chức, tư nhân trong tiến hành quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng

1. Tổ chức, tư nhân tham dự hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng phải tuân thủ Hiến pháp, Luật này và quy định khác của luật pháp có liên can.

2. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ chỉ dẫn giáo đồ, người tham dự hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng tiến hành hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng đúng quy định của luật pháp.

Chương III

HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG

Điều 10. Nguyên tắc tổ chức hoạt động tôn giáo

1. Hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo phải đảm bảo bảo tồn và phát huy các trị giá văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

2. Việc tổ chức hoạt động tôn giáo, lễ hội tôn giáo phải đảm bảo an ninh, thứ tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường.

Điều 11. Người đại diện, ban điều hành cơ sở tôn giáo

1. Cơ sở tôn giáo phải có người đại diện hoặc ban điều hành để chịu nghĩa vụ trước luật pháp về các hoạt động diễn ra tại cơ sở tôn giáo.

2. Người đại diện hoặc thành viên ban điều hành cơ sở tôn giáo phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong tập thể dân cư.

3. Ủy ban quần chúng cấp xã nơi có cơ sở tôn giáo phối hợp với Ủy ban Chiến trường Đất nước Việt Nam cùng cấp tổ chức để tập thể dân cư bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban điều hành. Căn cứ kết quả bầu, cử và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này, Ủy ban quần chúng cấp xã có văn bản xác nhận người đại diện hoặc thành viên ban điều hành cơ sở tôn giáo trong thời hạn 05 ngày làm việc bắt đầu từ ngày bầu, cử.

4. Việc bầu, cử người đại diện hoặc thành lập ban điều hành cơ sở tôn giáo đã được xếp hạng là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh tiến hành theo quy định của luật pháp về di sản văn hóa.

5. Việc bầu, cử người đại diện hoặc thành lập ban điều hành nhà thờ dòng tộc chẳng phải tiến hành theo quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 12. Đăng ký hoạt động tôn giáo

1. Hoạt động tôn giáo của cơ sở tôn giáo phải được đăng ký, trừ cơ sở tôn giáo là nhà thờ dòng tộc.

2. Người đại diện hoặc ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ gửi văn bản đăng ký tới Ủy ban quần chúng cấp xã nơi có cơ sở tôn giáo chậm nhất là 30 ngày trước ngày cơ sở tôn giáo mở đầu hoạt động tôn giáo, trừ trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật này.

Văn bản đăng ký nêu rõ tên cơ sở tôn giáo, các hoạt động tôn giáo, nội dung, quy mô, thời kì, vị trí diễn ra hoạt động.

Ủy ban quần chúng cấp xã có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đăng ký hợp thức; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

3. Hoạt động tôn giáo ko có trong văn bản đã được đăng ký thì người đại diện hoặc ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ đăng ký bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều này chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra hoạt động tôn giáo.

Điều 13. Tổ chức lễ hội tôn giáo định kỳ

1. Người đại diện, ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ công bố bằng văn bản về việc tổ chức lễ hội tôn giáo diễn ra định kỳ chậm nhất là 20 ngày trước ngày tổ chức lễ hội tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định sau đây:

a) Ủy ban quần chúng cấp xã nơi tổ chức lễ hội có nghĩa vụ tiếp thu công bố đối với lễ hội tôn giáo có quy mô tổ chức trong 1 xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã);

b) Ủy ban quần chúng cấp huyện nơi tổ chức lễ hội có nghĩa vụ tiếp thu công bố đối với lễ hội tôn giáo có quy mô tổ chức trong nhiều xã thuộc 1 huyện, quận, thị xã, thành thị thuộc tỉnh, thành thị thuộc thành thị trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là huyện);

c) Ủy ban quần chúng cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội có nghĩa vụ tiếp thu công bố đối với lễ hội tôn giáo có quy mô tổ chức trong nhiều huyện thuộc 1 tỉnh, thành thị trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh).

2. Văn bản công bố nêu rõ tên lễ hội tôn giáo, nội dung, quy mô, thời kì, vị trí tổ chức, dự định thành viên ban tổ chức và các điều kiện cần phải có để đảm bảo thứ tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trong lễ hội.

3. Việc tổ chức lễ hội tôn giáo định kỳ tại cơ sở tôn giáo là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng tiến hành theo quy định của luật pháp về di sản văn hóa.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có nghĩa vụ đảm bảo việc tổ chức lễ hội tôn giáo theo nội dung công bố.

Điều 14. Tổ chức lễ hội tôn giáo lần đầu, lễ hội tôn giáo được khôi phục hoặc lễ hội tôn giáo định kỳ mà có chỉnh sửa

1. Trước lúc tổ chức lễ hội tôn giáo lần đầu, lễ hội tôn giáo được khôi phục sau thời kì ngắt quãng hoặc lễ hội tôn giáo được diễn ra định kỳ mà có chỉnh sửa về quy mô, nội dung, thời kì, vị trí thì người đại diện hoặc ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ gửi văn bản đăng ký tới Ủy ban quần chúng cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội.

Văn bản đăng ký nêu rõ tên lễ hội, nội dung lễ hội hoặc nội dung chỉnh sửa so với trước, quy mô, thời kì, vị trí tổ chức, dự định thành viên ban tổ chức và các điều kiện cần phải có để đảm bảo thứ tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trong lễ hội.

2. Ủy ban quần chúng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đăng ký hợp thức; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

Điều 15. Quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tôn giáo

1. Người đại diện hoặc ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ điều hành và sử dụng đúng mục tiêu, công khai, sáng tỏ khoản thu từ việc tổ chức lễ hội.

2. Chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày xong xuôi lễ hội, người đại diện hoặc ban điều hành cơ sở tôn giáo có nghĩa vụ công bố bằng văn bản về khoản thu, mục tiêu sử dụng khoản thu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này.

Chương IV

ĐĂNG KÝ SINH HOẠT TÔN GIÁO TẬP TRUNG, ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

Điều 16. Điều kiện đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng cho giáo đồ tại những nơi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức tín ngưỡng trực thuộc; tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng cho những người thuộc tổ chức lúc phục vụ đủ các điều kiện sau đây:

a) Có vị trí hợp lí để sinh hoạt tín ngưỡng;

b) Nhóm sinh hoạt tín ngưỡng có người đại diện là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; ko chỉ mất khoảng bị vận dụng giải pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng; ko có án tích hoặc chẳng phải là người đang bị cáo buộc theo quy định của luật pháp về tố tụng hình sự;

c) Nội dung sinh hoạt tín ngưỡng ko thuộc trường hợp quy định tại Điều 5 của Luật này.

2. Những người theo tín ngưỡng ko thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng lúc phục vụ đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và các điều kiện sau đây:

a) Có giáo lý, giáo luật;

b) Tên của nhóm sinh hoạt tín ngưỡng ko trùng với tên tổ chức tín ngưỡng hoặc tổ chức đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tên danh nhân, người hùng dân tộc.

Điều 17. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền bằng lòng đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng hoặc người đại diện của nhóm người theo tín ngưỡng trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này gửi giấy má đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng tới Ủy ban quần chúng cấp xã nơi có vị trí hợp lí để sinh hoạt tín ngưỡng.

2. Giấy má đăng ký gồm:

a) Văn bản đăng ký nêu rõ tên tổ chức đăng ký; tên tín ngưỡng; họ và tên, nơi trú ngụ của người đại diện; nội dung, vị trí, thời kì sinh hoạt tín ngưỡng, số lượng người tham dự;

b) Giđó tờ chứng minh có vị trí hợp lí để làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng;

c) Sơ yếu lý lịch của người đại diện nhóm sinh hoạt tín ngưỡng ;

d) Bản tóm lược giáo lý, giáo luật đối với việc đăng ký quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật này.

3. Ủy ban quần chúng cấp xã có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má đăng ký hợp thức; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

Điều 18. Điều kiện để tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng

Tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng lúc phục vụ đủ các điều kiện sau đây:

1. Có giáo lý, giáo luật, lễ thức;

2. Có tôn chỉ, mục tiêu, quy chế hoạt động ko trái với quy định của luật pháp;

3. Tên của tổ chức ko trùng với tên tổ chức tín ngưỡng hoặc tổ chức đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tên danh nhân, người hùng dân tộc;

4. Người đại diện, người chỉ huy tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; ko chỉ mất khoảng bị vận dụng giải pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng; ko có án tích hoặc chẳng phải là người đang bị cáo buộc theo quy định của luật pháp về tố tụng hình sự;

5. Có vị trí hợp lí để đặt hội sở;

6. Nội dung hoạt động tín ngưỡng ko thuộc trường hợp quy định tại Điều 5 của Luật này.

Điều 19. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng

1. Tổ chức có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 18 của Luật này gửi giấy má đăng ký hoạt động tín ngưỡng tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Giấy má đăng ký gồm:

a) Văn bản đăng ký nêu rõ tên tổ chức; tên tín ngưỡng; tôn chỉ, mục tiêu; nội dung, địa bàn hoạt động; xuất xứ tạo nên, công đoạn tăng trưởng ở Việt Nam; họ và tên người đại diện tổ chức; số lượng người tin theo; cơ cấu tổ chức, vị trí dự định đặt hội sở;

b) Danh sách, sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp, bản tóm lược công đoạn hoạt động tín ngưỡng của người đại diện và những người dự định chỉ huy tổ chức;

c) Bản tóm lược giáo lý, giáo luật, lễ thức;

d) Quy chế hoạt động của tổ chức;

đ) Giđó tờ chứng minh có vị trí hợp lí để đặt hội sở.

3. Thẩm quyền cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng:

a) Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban quần chúng cấp tỉnh tiến hành điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh) cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở 1 tỉnh trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp khước từ cấp chứng thực đăng ký phải nêu rõ lý do;

b) Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp khước từ cấp chứng thực đăng ký phải nêu rõ lý do.

Điều 20. Hoạt động của tổ chức sau lúc được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng

1. Tổ chức sau lúc được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng được tiến hành các hoạt động sau đây:

a) Tổ chức các cuộc lễ tín ngưỡng, sinh hoạt tín ngưỡng, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý;

b) Bổ nhậm, bầu cử, suy cử chức việc;

c) Tu sửa, cải tạo hội sở;

d) Tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo;

đ) Tổ chức đại hội phê chuẩn hiến chương.

2. Khi tiến hành hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức phải tuân thủ quy định của Luật này, quy định khác của luật pháp có liên can.

Chương V

TỔ CHỨC TÔN GIÁO

Mục 1. CÔNG NHẬN TỔ CHỨC TÔN GIÁO; THÀNH LẬP, CHIA, TÁCH, SÁP NHẬP, HỢP NHẤT TỔ CHỨC TÔN GIÁO TRỰC THUỘC

Điều 21. Điều kiện xác nhận tổ chức tín ngưỡng

Tổ chức đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng được xác nhận là tổ chức tín ngưỡng lúc phục vụ đủ các điều kiện sau đây:

1. Hoạt động bất biến, liên tiếp từ đủ 05 5 trở lên bắt đầu từ ngày được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng;

2. Có hiến chương theo quy định tại Điều 23 của Luật này;

3. Người đại diện, người chỉ huy tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; ko chỉ mất khoảng bị vận dụng giải pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng; ko có án tích hoặc chẳng phải là người đang bị cáo buộc theo quy định của luật pháp về tố tụng hình sự;

4. Có cơ cấu tổ chức theo hiến chương;

5. Có của cải độc lập với tư nhân, tổ chức khác và tự chịu nghĩa vụ bằng của cải của mình;

6. Nhân danh tổ chức tham dự quan hệ luật pháp 1 cách độc lập.

Điều 22. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền xác nhận tổ chức tín ngưỡng

1. Tổ chức đủ điều kiện theo quy định tại Điều 21 của Luật này gửi giấy má yêu cầu xác nhận tổ chức tín ngưỡng tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức yêu cầu xác nhận, tên giao dịch quốc tế (nếu có); tên tín ngưỡng; họ và tên người đại diện tổ chức; số lượng giáo đồ, địa bàn hoạt động của tổ chức tại thời khắc yêu cầu; cơ cấu tổ chức, hội sở của tổ chức;

b) Văn bản tóm lược công đoạn hoạt động của tổ chức kể từ được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng;

c) Danh sách, sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp, bản tóm lược công đoạn hoạt động tín ngưỡng của người đại diện và những người dự định chỉ huy tổ chức;

d) Bản tóm lược giáo lý, giáo luật, lễ thức;

đ) Hiến chương của tổ chức;

e) Bản kê khai của cải hợp lí của tổ chức;

g) Giđó tờ chứng minh có vị trí hợp lí để đặt hội sở.

3. Thẩm quyền xác nhận tổ chức tín ngưỡng:

a) Ủy ban quần chúng cấp tỉnh quyết định xác nhận tổ chức tín ngưỡng đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở 1 tỉnh trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko xác nhận phải nêu rõ lý do;

b) Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương quyết định xác nhận tổ chức tín ngưỡng đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko xác nhận phải nêu rõ lý do.

Điều 23. Hiến chương của tổ chức tín ngưỡng

Hiến chương của tổ chức tín ngưỡng có những nội dung căn bản sau đây:

1. Tên của tổ chức;

2. Tôn chỉ, mục tiêu, nguyên lý hoạt động;

3. Địa bàn hoạt động, hội sở chính;

4. Nguồn vốn, của cải;

5. Người đại diện theo luật pháp, mẫu con dấu;

6. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc;

7. Nhiệm vụ, quyền hạn của ban chỉ huy tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc;

8. Điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, bí quyết phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cất chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành;

9. Điều kiện, thẩm quyền, bí quyết giải tán tổ chức tín ngưỡng; thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất, giải tán tổ chức tín ngưỡng trực thuộc;

10. Việc tổ chức hội nghị, đại hội; thể thức phê chuẩn quyết định, sửa đổi, bổ sung hiến chương; nguyên lý, phương thức khắc phục mâu thuẫn nội bộ của tổ chức;

11. Quan hệ giữa tổ chức tín ngưỡng với tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, giữa tổ chức tín ngưỡng với tổ chức, tư nhân khác có liên can.

Điều 24. Sửa đổi hiến chương

1. Tổ chức tín ngưỡng lúc sửa đổi hiến chương phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 22 của Luật này. Văn bản đăng ký nêu rõ tên tổ chức tín ngưỡng, người đại diện, nội dung, lý do sửa đổi kèm theo hiến chương sửa đổi.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đăng ký hợp thức; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

3. Tổ chức tín ngưỡng được hoạt động theo hiến chương sửa đổi bắt đầu từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng.

Điều 25. Tên của tổ chức tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng phải có tên bằng tiếng Việt.

2. Tên của tổ chức tín ngưỡng ko trùng với tên tổ chức tín ngưỡng khác hoặc tổ chức khác đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tên danh nhân, người hùng dân tộc.

3. Tên của tổ chức tín ngưỡng được sử dụng trong quan hệ với tổ chức, tư nhân khác.

4. Tên của tổ chức tín ngưỡng được luật pháp xác nhận và bảo vệ.

5. Tổ chức tín ngưỡng chỉnh sửa tên phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 22 của Luật này bằng lòng.

6. Tổ chức tín ngưỡng trực thuộc chỉnh sửa tên thì tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này bằng lòng.

Điều 26. Thay đổi hội sở của tổ chức tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng lúc chỉnh sửa hội sở phải được sự bằng lòng của Ủy ban quần chúng cấp tỉnh nơi đặt hội sở mới và phải công bố bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 22 của Luật này.

2. Tổ chức tín ngưỡng trực thuộc lúc chỉnh sửa hội sở phải được sự bằng lòng của Ủy ban quần chúng cấp tỉnh nơi đặt hội sở mới và công bố bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này.

Điều 27. Thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc được thành lập tổ chức tín ngưỡng trực thuộc; chia, tách tổ chức tín ngưỡng trực thuộc thành nhiều tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mới; sáp nhập tổ chức tín ngưỡng trực thuộc vào 1 tổ chức tín ngưỡng trực thuộc khác; thống nhất các tổ chức tín ngưỡng trực thuộc thành 1 tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mới.

2. Sau lúc chia, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị chia hoàn thành còn đó; quyền, trách nhiệm của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị chia được chuyển ủy quyền các tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mới.

3. Sau lúc tách, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị tách và tổ chức tín ngưỡng trực thuộc được tách tiến hành quyền, trách nhiệm của mình thích hợp với mục tiêu hoạt động.

4. Sau lúc sáp nhập, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị sáp nhập hoàn thành còn đó; quyền và trách nhiệm của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị sáp nhập được chuyển ủy quyền tổ chức tín ngưỡng trực thuộc nhưng tổ chức đấy được sáp nhập vào.

5. Sau lúc thống nhất, các tổ chức tín ngưỡng trực thuộc cũ hoàn thành còn đó bắt đầu từ thời khắc tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mới được thành lập; quyền và trách nhiệm của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc cũ được chuyển ủy quyền tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mới.

Điều 28. Điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc được thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc lúc phục vụ đủ các điều kiện sau đây:

1. Hiến chương của tổ chức tín ngưỡng có quy định về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc;

2. Hoạt động của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước lúc chia, tách, sáp nhập, thống nhất ko thuộc trường hợp quy định tại Điều 5 của Luật này;

3. Có vị trí hợp lí để đặt hội sở.

Điều 29. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền bằng lòng thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

1. Trước lúc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có tách nhiệm gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ lý do; tên tổ chức yêu cầu; tên tổ chức tín ngưỡng trực thuộc dự định thành lập; tên tổ chức, người đại diện tổ chức trước và sau lúc chia, tách, sáp nhập, thống nhất; địa bàn hoạt động, số lượng giáo đồ của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc tại thời khắc thành lập; địa bàn hoạt động, số lượng giáo đồ của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước và sau lúc chia, tách, sáp nhập, thống nhất; cơ cấu tổ chức, vị trí dự định đặt hội sở của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc sau lúc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất;

b) Văn bản tóm lược công đoạn hoạt động của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước lúc chia, tách, sáp nhập, thống nhất;

c) Danh sách, sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp, bản tóm lược công đoạn hoạt động tín ngưỡng của người đại diện và những người dự định chỉ huy tổ chức tín ngưỡng trực thuộc;

d) Hiến chương của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc (nếu có);

đ) Bản kê khai của cải hợp lí của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc;

e) Giđó tờ chứng minh có vị trí hợp lí để đặt hội sở.

3. Thẩm quyền bằng lòng việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc:

a) Ủy ban quần chúng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất đối với tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có địa bàn hoạt động ở 1 tỉnh trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do;

b) Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất đối với tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

4. Sau lúc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có văn bản thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc.

Hết thời hạn 01 5 bắt đầu từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng, nếu tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc ko thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất tổ chức tín ngưỡng trực thuộc thì văn bản bằng lòng hết hiệu lực.

Điều 30. Nhân cách pháp nhân của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

1. Tổ chức tín ngưỡng là pháp nhân phi thương nghiệp bắt đầu từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

2. Tổ chức tín ngưỡng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này cấp đăng ký pháp nhân phi thương nghiệp cho tổ chức tín ngưỡng trực thuộc lúc phục vụ các điều kiện quy định tại các khoản 5 và 6 Điều 21 của Luật này.

3. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục cấp đăng ký pháp nhân đối với tổ chức tín ngưỡng trực thuộc.

Điều 31. Gicửa ải thể tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc giải tán trong trường hợp sau đây:

a) Theo quy định của hiến chương;

b) Không hoạt động tín ngưỡng chỉ mất khoảng 01 5 bắt đầu từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc bằng lòng việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất; dừng hoạt động tín ngưỡng chỉ mất khoảng 01 5 liên tiếp;

c) Hết thời hạn bị đình chỉ toàn thể hoạt động tín ngưỡng nhưng ko giải quyết được nguyên cớ dẫn tới việc bị đình chỉ.

2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận tổ chức tín ngưỡng có quyền giải tán tổ chức tín ngưỡng.

Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có quyền giải tán tổ chức tín ngưỡng trực thuộc. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này có quyền giải tán hoặc đề xuất tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc giải tán tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

3. Trước lúc giải tán, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc phải tiến hành đầy đủ các trách nhiệm về của cải. Của nả của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị giải tán được khắc phục theo quy định của luật pháp về dân sự.

Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có nghĩa vụ công bố về việc giải tán tổ chức tín ngưỡng trực thuộc tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày tổ chức tín ngưỡng trực thuộc bị giải tán.

4. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải tán tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc.

Mục 2. PHONG PHẨM, BỔ NHIỆM, BẦU CỬ, SUY CỬ, THUYÊN CHUYỂN, CÁCH CHỨC, BÃI NHIỆM CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH

Điều 32. Phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc tiến hành việc phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử theo hiến chương của tổ chức tín ngưỡng.

2. Người được phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; ko chỉ mất khoảng bị vận dụng giải pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng; ko có án tích hoặc chẳng phải là người đang bị cáo buộc theo quy định của luật pháp về tố tụng hình sự.

3. Việc phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử có nhân tố nước ngoài được tiến hành theo quy định tại Điều 51 của Luật này.

Điều 33. Thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc

1. Tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương về người được phong phẩm hoặc suy cử làm hòa thượng, thượng tọa, ni trưởng, ni cô của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; mục sư của các tổ chức Tin lành; phối sư trở lên của các Hội thánh Cao đài; giảng viên trở lên của Tịnh thổ Cư sỹ Phật hội Việt Nam và các phẩm vị tương đương của tổ chức tín ngưỡng khác chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày phong phẩm hoặc suy cử.

2. Đối với các trường hợp phong phẩm hoặc suy cử chức sắc ko thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh nơi chức sắc trú ngụ và hoạt động tín ngưỡng chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày phong phẩm hoặc suy cử.

3. Văn bản công bố nêu rõ tên tổ chức tín ngưỡng, họ và tên, phẩm vị, địa bàn hoạt động, tóm lược công đoạn hoạt động tín ngưỡng kèm theo sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp của chức sắc.

4. Trường hợp người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc ko phục vụ quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản đề xuất tổ chức tín ngưỡng hủy kết quả phong phẩm hoặc suy cử chức sắc.

Trong thời hạn 20 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đề xuất, tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ hủy kết quả phong phẩm hoặc suy cử chức sắc và có nghĩa vụ công bố bằng văn bản về việc hủy kết quả phong phẩm hoặc suy cử tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 34. Đăng ký người được bổ nhậm, bầu cử, suy cử làm chức việc

1. Tổ chức tín ngưỡng trước lúc bổ nhậm, bầu cử, suy cử chức việc sau đây có nghĩa vụ gửi giấy má đăng ký tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương:

a) Thành viên ban chỉ huy tổ chức tín ngưỡng có địa bàn hoạt động trong nhiều tỉnh;

b) Người đứng đầu tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có địa bàn hoạt động trong nhiều tỉnh;

c) Người đứng đầu tư sở tập huấn tín ngưỡng.

2. Đối với các trường hợp ko thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước lúc tiến hành việc bổ nhậm, bầu cử, suy cử chức việc có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh nơi chức việc trú ngụ và hoạt động tín ngưỡng.

3. Tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng trước lúc tiến hành việc bổ nhậm, bầu cử, suy cử chức việc có nghĩa vụ gửi giấy má đăng ký tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

4. Giấy má đăng ký gồm:

a) Văn bản đăng ký nêu rõ họ và tên người được dự định bổ nhậm, bầu cử, suy cử; phẩm vị, chức phận, địa bàn gánh vác trước và sau lúc được bổ nhậm, bầu cử, suy cử;

b) Sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp của người được dự định bổ nhậm, bầu cử, suy cử;

c) Bản tóm lược công đoạn hoạt động tín ngưỡng của người được dự định bổ nhậm, bầu cử, suy cử.

5. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

6. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản về người được bổ nhậm, bầu cử, suy cử tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày bổ nhậm, bầu cử, suy cử.

7. Đối với người dự định chỉ huy tổ chức quy định tại các điều 19, 22, 29 và 38 của Luật này sau lúc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng chỉ tiến hành công bố kết quả về người được bổ nhậm, bầu cử, suy cử theo quy định tại khoản 6 Điều này.

Điều 35. Thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước lúc thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh nơi đi và nơi tới chậm nhất là 20 ngày.

Văn bản công bố nêu rõ tên tổ chức công bố, họ và tên, phẩm vị, chức phận của người được thuyên chuyển, lý do thuyên chuyển, địa bàn hoạt động tín ngưỡng trước lúc thuyên chuyển, địa bàn hoạt động sau lúc được thuyên chuyển tới.

2. Trước lúc thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người đang bị cáo buộc hoặc chưa được xóa án tích, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có nghĩa vụ gửi văn bản đăng ký tới Ủy ban quần chúng cấp tỉnh nơi dự định thuyên chuyển tới.

Văn bản đăng ký nêu rõ tên tổ chức đăng ký, họ và tên, phẩm vị, chức phận của người được thuyên chuyển, lý do thuyên chuyển, địa bàn hoạt động tín ngưỡng trước lúc thuyên chuyển, địa bàn hoạt động sau lúc được thuyên chuyển tới.

Ủy ban quần chúng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đăng ký; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

Điều 36. Cất chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc cất chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc theo hiến chương của tổ chức.

2. Chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày có văn bản về việc cất chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33, khoản 1 và khoản 2 Điều 34 của Luật này.

Văn bản công bố nêu rõ họ và tên, phẩm vị, chức phận của người bị cất chức, bãi nhiệm; lý do cất chức, bãi nhiệm kèm theo văn bản của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc về việc cất chức, bãi nhiệm.

3. Tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản theo quy định tại khoản 2 Điều này tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

Mục 3. CƠ SỞ ĐÀO TẠO TÔN GIÁO, LỚP BỒI DƯỠNG TÔN GIÁO

Điều 37. Điều kiện thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng

Tổ chức tín ngưỡng được thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng lúc phục vụ đủ các điều kiện sau đây:

1. Có hạ tầng đảm bảo cho việc tập huấn;

2. Có vị trí hợp lí để đặt cơ sở tập huấn;

3. Có chương trình, nội dung tập huấn; có môn học về lịch sử Việt Nam và luật pháp Việt Nam trong chương trình tập huấn;

4. Có nhân sự điều hành và giảng dạy phục vụ đề xuất tập huấn.

Điều 38. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền bằng lòng thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng

1. Trước lúc thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng nêu rõ tên tổ chức tín ngưỡng, tên cơ sở tập huấn, họ và tên người đại diện cơ sở tập huấn, sự cần phải có thành lập cơ sở tập huấn;

b) Danh sách, sơ yếu lý lịch, phiếu lý lịch tư pháp, bản tóm lược công đoạn hoạt động tín ngưỡng của người đại diện và những người dự định chỉ huy cơ sở tập huấn;

c) Dự thảo quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở tập huấn gồm các nội dung căn bản: tên cơ sở tập huấn; vị trí đặt hội sở; tính năng, nhiệm vụ; cơ cấu tổ chức, nhân sự; trình độ, loại hình tập huấn; chương trình, nội dung giảng dạy và chuẩn tập huấn của từng trình độ tập huấn; vốn đầu tư, của cải;

d) Dự thảo quy chế tuyển sinh của cơ sở tập huấn;

đ) Giđó tờ chứng minh có vị trí hợp lí và hạ tầng đảm bảo cho việc tập huấn; quan điểm bằng lòng của Ủy ban quần chúng cấp tỉnh về vị trí đặt cơ sở tập huấn tín ngưỡng.

3. Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

4. Sau lúc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng, tổ chức tín ngưỡng có văn bản thành lập cơ sở tập huấn tín ngưỡng.

Hết thời hạn 03 5 bắt đầu từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng, nếu tổ chức tín ngưỡng ko thành lập cơ sở tập huấn thì văn bản bằng lòng hết hiệu lực.

5. Cơ sở tập huấn tín ngưỡng ko thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Điều 39. Hoạt động của cơ sở tập huấn tín ngưỡng

1. Chậm nhất là 20 ngày trước lúc cơ sở tập huấn tín ngưỡng mở đầu hoạt động, người đại diện cơ sở tập huấn tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương về hoạt động của cơ sở tập huấn tín ngưỡng kèm theo văn bản thành lập, quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh, danh sách thành viên ban chỉ huy, báo cáo về nguồn lực vốn đầu tư và hạ tầng để đảm bảo hoạt động.

2. Việc tổ chức tập huấn, tuyển sinh của cơ sở tập huấn tín ngưỡng tiến hành theo quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh đã công bố.

3. Cơ sở tập huấn tín ngưỡng lúc sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh phải đăng ký với cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương. Văn bản đăng ký nêu rõ lý do, nội dung chỉnh sửa kèm theo quy chế sửa đổi.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đăng ký hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

Cơ sở tập huấn tín ngưỡng được hoạt động theo quy chế sửa đổi sau lúc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng.

4. Cơ sở tập huấn tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản về kết quả tập huấn của từng khóa học với cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày xong xuôi khóa học. Văn bản công bố nêu rõ tên cơ sở tập huấn tín ngưỡng, khóa tập huấn, số học viên tốt nghiệp.

5. Việc theo học của người nước ngoài tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng ở Việt Nam tiến hành theo quy định tại Điều 49 của Luật này.

Điều 40. Chỉ dẫn chương trình, nội dung giảng dạy môn học về lịch sử Việt Nam và luật pháp Việt Nam

Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Tập huấn, Bộ Tư pháp, các cơ quan liên can chỉ dẫn chương trình, nội dung giảng dạy môn học về lịch sử Việt Nam và luật pháp Việt Nam.

Điều 41. Mở lớp bồi dưỡng về tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mở lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tín ngưỡng có nghĩa vụ gửi văn bản đăng ký tới cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh nơi mở lớp. Văn bản đăng ký nêu rõ tên lớp, vị trí, lý do, thời kì học, nội dung, chương trình, thành phần tham gia, danh sách giảng sư.

Cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản đăng ký hợp thức; trường hợp khước từ đăng ký phải nêu rõ lý do.

2. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc mở lớp bồi dưỡng về tín ngưỡng ko thuộc quy định tại khoản 1 Điều này có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới Ủy ban quần chúng cấp huyện nơi mở lớp chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai trường. Văn bản công bố nêu rõ tên lớp, vị trí, lý do, thời kì học, nội dung, chương trình, thành phần tham gia, danh sách giảng sư.

Trường hợp việc mở lớp bồi dưỡng về tín ngưỡng có hành vi quy định tại Điều 5 của Luật này, Ủy ban quần chúng cấp huyện có văn bản đề xuất tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc ko tổ chức hoặc ngừng việc mở lớp bồi dưỡng.

Điều 42. Gicửa ải thể cơ sở tập huấn tín ngưỡng

1. Cơ sở tập huấn tín ngưỡng giải tán trong trường hợp sau đây:

a) Theo quyết định của tổ chức tín ngưỡng;

b) Hết thời hạn 03 5 bắt đầu từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng lòng việc thành lập, cơ sở tập huấn tín ngưỡng ko tổ chức được hoạt động tập huấn;

c) Hết thời hạn bị đình chỉ hoạt động tập huấn tín ngưỡng nhưng ko giải quyết được nguyên cớ dẫn tới việc bị đình chỉ.

2. Tổ chức tín ngưỡng có quyền giải tán cơ sở tập huấn tín ngưỡng. Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có quyền giải tán hoặc đề xuất tổ chức tín ngưỡng giải tán cơ sở tập huấn tín ngưỡng trong trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

Tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố về việc giải tán cơ sở tập huấn tín ngưỡng tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày giải tán.

3. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải tán cơ sở tập huấn tín ngưỡng.

Chương VI

HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO; HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN, GIÁO DỤC, Y TẾ, BẢO TRỢ XÃ HỘI, TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO

Mục 1. HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

Điều 43. Thông báo danh mục hoạt động tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản về danh mục hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng 5 chậm nhất là 30 ngày bắt đầu từ ngày được xác nhận, bằng lòng hoặc được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định sau đây:

a) Tổ chức có địa bàn hoạt động tín ngưỡng ở 1 xã gửi công bố tới Ủy ban quần chúng cấp xã;

b) Tổ chức có địa bàn hoạt động tín ngưỡng ở nhiều xã thuộc 1 huyện gửi công bố tới Ủy ban quần chúng cấp huyện;

c) Tổ chức có địa bàn hoạt động tín ngưỡng ở nhiều huyện thuộc 1 tỉnh gửi công bố tới cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh;

d) Tổ chức có địa bàn hoạt động tín ngưỡng ở nhiều tỉnh gửi công bố tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

2. Văn bản công bố nêu rõ tên tổ chức, tên các hoạt động tín ngưỡng, thời kì, vị trí diễn ra hoạt động.

3. Việc công bố danh mục hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng 5 chỉ tiến hành 1 lần. Đối với hoạt động tín ngưỡng ko có trong danh mục đã công bố thì người đại diện tổ chức có nghĩa vụ công bố bổ sung theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này chậm nhất là 20 ngày trước lúc diễn ra hoạt động.

Điều 44. Hội nghị của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc tổ chức hội nghị thường niên có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 45 của Luật này chậm nhất là 20 ngày trước ngày tổ chức hội nghị.

Văn bản công bố nêu rõ tên tổ chức; dự định thành phần, số lượng người tham gia; nội dung, chương trình, thời kì, vị trí tổ chức hội nghị.

2. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc tổ chức hội nghị liên tín ngưỡng, hội nghị có nhân tố nước ngoài có nghĩa vụ gửi văn bản yêu cầu tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương. Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức; lý do tổ chức; dự định thành phần, số lượng người tham gia; nội dung, chương trình, thời kì, vị trí tổ chức hội nghị.

Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản yêu cầu hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

Điều 45. Đại hội của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng trước lúc tổ chức đại hội có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức; lý do tổ chức; dự định thành phần, số lượng người tham gia; nội dung, chương trình, thời kì, vị trí tổ chức đại hội;

b) Báo cáo tổng kết hoạt động của tổ chức;

c) Dự thảo hiến chương hoặc hiến chương sửa đổi (nếu có).

3. Thẩm quyền bằng lòng tổ chức đại hội:

a) Ủy ban quần chúng cấp huyện có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản đối với việc tổ chức đại hội của tổ chức tín ngưỡng trực thuộc có địa bàn hoạt động ở 1 huyện trong thời hạn 25 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do;

b) Cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản đối với việc tổ chức đại hội của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng có địa bàn hoạt động ở nhiều huyện thuộc 1 tỉnh trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do;

c) Đối với việc tổ chức đại hội ko thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều này, cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

Điều 46. Cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tín ngưỡng, vị trí hợp lí

1. Trước lúc tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tín ngưỡng, vị trí hợp lí đã đăng ký, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng có nghĩa vụ gửi văn bản yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức yêu cầu, tên cuộc lễ, người chủ trì, nội dung, chương trình, thời kì, vị trí tiến hành, quy mô, thành phần tham gia cuộc lễ.

2. Trước lúc giảng đạo ngoài địa bàn gánh vác, cơ sở tín ngưỡng, vị trí hợp lí đã đăng ký, chức sắc, chức việc, nhà tu hành có nghĩa vụ gửi văn bản yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

Văn bản yêu cầu nêu rõ họ và tên người yêu cầu, nội dung, lý do, chương trình, thời kì, vị trí tiến hành, thành phần tham gia.

3. Thẩm quyền bằng lòng tổ chức cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tín ngưỡng, vị trí hợp lí:

a) Ủy ban quần chúng cấp huyện có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc tổ chức cuộc lễ, giảng đạo có quy mô tổ chức ở 1 huyện trong thời hạn 25 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản yêu cầu hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do;

b) Cơ quan chuyên môn về tôn giáo, tín ngưỡng cấp tỉnh nơi dự định tổ chức cuộc lễ, giảng đạo có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc tổ chức cuộc lễ, giảng đạo có quy mô tổ chức ở nhiều huyện thuộc 1 tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày thu được văn bản yêu cầu hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi tổ chức cuộc lễ, giảng đạo có nghĩa vụ cung cấp đảm bảo an ninh, thứ tự cho cuộc lễ, giảng đạo.

Mục 2. HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Điều 47. Sinh hoạt tín ngưỡng của người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam

1. Người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam có nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng hoặc tại vị trí hợp lí khác gửi giấy má yêu cầu tới Ủy ban quần chúng cấp tỉnh nơi có cơ sở tín ngưỡng hoặc vị trí dự định sinh hoạt tín ngưỡng .

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ họ và tên, quốc tịch, tín ngưỡng của người đại diện; lý do, thời kì, nội dung sinh hoạt, số lượng người tham dự, cơ sở tín ngưỡng hoặc vị trí dự định sinh hoạt;

b) Bản sao có chứng nhận giấy má chứng minh việc trú ngụ hợp lí tại Việt Nam của người đại diện;

c) Văn bản đồng ý của người đại diện cơ sở tín ngưỡng hoặc giấy má chứng minh có vị trí hợp lí để sinh hoạt tín ngưỡng .

3. Ủy ban quần chúng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

Điều 48. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động quan hệ quốc tế về tín ngưỡng của tổ chức, tư nhân nước ngoài tại Việt Nam

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước lúc mời tổ chức, tư nhân nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động quan hệ quốc tế về tín ngưỡng có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức mời; tên tổ chức, tư nhân được mời; mục tiêu, nội dung các hoạt động; danh sách khách mời; dự định chương trình, thời kì và vị trí tổ chức;

b) Bản giới thiệu tóm lược các hoạt động cốt yếu của tổ chức, tư nhân nước ngoài;

c) Văn bản chứng minh chức danh hoạt động tín ngưỡng của người được mời.

3. Thẩm quyền bằng lòng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động quan hệ quốc tế về tín ngưỡng của tổ chức, tư nhân nước ngoài tại Việt Nam:

a) Ủy ban quần chúng cấp tỉnh có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc mời tổ chức, tư nhân nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động tín ngưỡng ở 1 tỉnh trong thời hạn 30 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do;

b) Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản về việc mời tổ chức, tư nhân nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành hoạt động tín ngưỡng ở nhiều tỉnh hoặc hoạt động quan hệ quốc tế về tín ngưỡng trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

4. Tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài tới giảng đạo có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Nhóm người nước ngoài sinh hoạt tín ngưỡng mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài tới giảng đạo có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều này tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

6. Trong công đoạn giảng đạo, chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài phải tôn trọng quy định của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng ở Việt Nam và tuân thủ quy định của luật pháp Việt Nam.

Điều 49. Người nước ngoài học tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng ở Việt Nam

1. Người nước ngoài học tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng ở Việt Nam phải là người trú ngụ hợp lí ở Việt Nam, tuân thủ luật pháp Việt Nam, tình nguyện đăng ký học và được cơ sở tập huấn tín ngưỡng gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ tên cơ sở tập huấn tín ngưỡng; họ và tên, quốc tịch của người đăng ký học, khóa học, thời kì học;

b) Bản dịch hộ chiếu của người đăng ký học sang tiếng Việt có công chứng.

c) Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

Điều 50. Tham gia hoạt động tín ngưỡng, tập huấn tín ngưỡng ở nước ngoài

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc trước lúc cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành, giáo đồ tham dự hoạt động tín ngưỡng, tập huấn tín ngưỡng ở nước ngoài có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức, mục tiêu, chương trình, thời kì, vị trí hoạt động tín ngưỡng, tập huấn tín ngưỡng ở nước ngoài;

b) Giđó mời hoặc văn bản bằng lòng tham dự hoạt động tín ngưỡng, tập huấn của tổ chức tín ngưỡng ở nước ngoài.

3. Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

Điều 51. Phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử có nhân tố nước ngoài

1. Phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử có nhân tố nước ngoài bao gồm các trường hợp sau đây:

a) Tổ chức tín ngưỡng Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam;

b) Tổ chức tín ngưỡng nước ngoài phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử cho công dân Việt Nam ở Việt Nam.

2. Người được yêu cầu phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử phải phục vụ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này. Người nước ngoài trú ngụ hợp lí tại Việt Nam được yêu cầu phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị còn phải phục vụ các điều kiện sau đây:

a) Được tập huấn tín ngưỡng tại cơ sở tập huấn tín ngưỡng ở Việt Nam;

b) Tuân thủ luật pháp Việt Nam.

3. Việc phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử có nhân tố nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này phải được sự bằng lòng trước của cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

4. Công dân Việt Nam được diễn ra tín ngưỡng nước ngoài phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử ở nước ngoài lúc về Việt Nam làm chức sắc, chức việc thì tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc điều hành trực tiếp có nghĩa vụ đăng ký với cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

5. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục bằng lòng, đăng ký việc phong phẩm, bổ nhậm, bầu cử, suy cử có nhân tố nước ngoài quy định tại Điều này.

Điều 52. Hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, giáo đồ

1. Tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, giáo đồ tiến hành các hoạt động quan hệ quốc tế theo hiến chương của tổ chức tín ngưỡng thích hợp với luật pháp Việt Nam.

2. Khi tiến hành các hoạt động quan hệ quốc tế, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, giáo đồ phải tuân thủ luật pháp Việt Nam và luật pháp của đất nước có liên can.

Điều 53. Gia nhập tổ chức tín ngưỡng nước ngoài

1. Trước lúc gia nhập tổ chức tín ngưỡng nước ngoài, tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ gửi giấy má yêu cầu tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương.

2. Giấy má yêu cầu gồm:

a) Văn bản yêu cầu nêu rõ tên tổ chức tín ngưỡng, mục tiêu, thời khắc gia nhập; tên, hiến chương, tôn chỉ, mục tiêu hoạt động, hội sở chính của tổ chức tín ngưỡng nước ngoài;

b) Văn bản bằng lòng hoặc văn bản mời gia nhập của tổ chức tín ngưỡng nước ngoài.

3. Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương có nghĩa vụ giải đáp bằng văn bản trong thời hạn 60 ngày bắt đầu từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức; trường hợp ko bằng lòng phải nêu rõ lý do.

4. Khi hoàn thành tham dự tổ chức tín ngưỡng nước ngoài, tổ chức tín ngưỡng có nghĩa vụ công bố bằng văn bản tới cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương chậm nhất là 20 ngày bắt đầu từ ngày hoàn thành.

Văn bản công bố nêu rõ tên tổ chức tín ngưỡng, tên tổ chức tín ngưỡng nước ngoài đã gia nhập, lý do hoàn thành, thời khắc mở đầu hoàn thành.

Mục 3. HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC XUẤT BẢN, GIÁO DỤC, Y TẾ, BẢO TRỢ XÃ HỘI, TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO

Điều 54. Hoạt động xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, du nhập văn hóa phẩm

Được tiến hành hoạt động xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tôn giáo, tín ngưỡng; sản xuất, xuất khẩu, du nhập văn hóa phẩm tôn giáo, tín ngưỡng, đồ dùng tín ngưỡng theo quy định của luật pháp về xuất bản và quy định khác của luật pháp.

Điều 55. Hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo

Được tham dự các hoạt động giáo dục, tập huấn, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của luật pháp có liên can.

Chương VII

TÀI SẢN CỦA CƠ SỞ TÍN NGƯỠNG, TỔ CHỨC TÔN GIÁO

Điều 56. Việc điều hành, sử dụng của cải của cơ sở tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng

1. Của nả của cơ sở tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng bao gồm của cải được tạo nên từ đóng góp của thành viên tổ chức; quyên góp, tặng cho của tổ chức, tư nhân hoặc các nguồn khác theo quy định của luật pháp.

2. Của nả của cơ sở tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng phải được điều hành, sử dụng đúng mục tiêu và thích hợp với quy định của luật pháp.

3. Cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng được tạo nên theo tập quán, do các thành viên của tập thể cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác thích hợp với quy định của luật pháp nhằm chuyên dụng cho nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của tập thể là của cải thuộc sở hữu chung của tập thể.

4. Việc biến đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn của cải bằng quyền sử dụng đất tiến hành theo quy định của luật pháp có liên can.

5. Chính phủ quy định cụ thể việc tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc tiếp thu và điều hành các khoản tài trợ của tổ chức, tư nhân nước ngoài; việc quyên góp của cơ sở tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc.

Điều 57. Đất cơ sở tôn giáo, đất cơ sở tín ngưỡng

Đất cơ sở tôn giáo, đất cơ sở tín ngưỡng được điều hành và sử dụng theo quy định của luật pháp về đất đai.

Điều 58. Cải tạo, tăng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo, công trình tín ngưỡng

1. Việc cải tạo, tăng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo, công trình tín ngưỡng được tiến hành theo quy định của luật pháp về xây dựng.

2. Việc cải tạo, tăng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng tiến hành như quy định của luật pháp về xây dựng đối với các công trình, nhà ở riêng biệt xây dựng trong đô thị, trung tâm cụm xã, trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa, cách mệnh.

3. Việc sửa sang, hồi phục cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng là di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng; việc cải tạo, tăng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này tiến hành theo quy định của luật pháp về di sản văn hóa và luật pháp về xây dựng.

Điều 59. Di dời công trình tôn giáo, công trình tín ngưỡng

Việc di dời công trình tôn giáo, công trình tín ngưỡng vì mục tiêu quốc phòng, an ninh, tăng trưởng kinh tế – xã hội, vì ích lợi đất nước, công cộng tiến hành theo quy định của luật pháp về đất đai và luật pháp về xây dựng.

Chương VIII

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Mục 1. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Điều 60. Nội dung điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng

1. Xây dựng chế độ, ban hành văn bản quy phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

2. Quy định tổ chức bộ máy điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng.

3. Tổ chức tiến hành chế độ, luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

4. Phổ biến, giáo dục luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

5. Nghiên cứu trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng; tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhân viên làm công việc tôn giáo, tín ngưỡng.

6. Thanh tra, rà soát, khắc phục tố cáo, tố giác và xử lý vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

7. Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng.

Điều 61. Trách nhiệm điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng

1. Chính phủ hợp nhất điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng trong khuôn khổ cả nước.

2. Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương chịu nghĩa vụ trước Chính phủ trong việc tiến hành điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý trong khuôn khổ nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiến hành điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng.

Đối với huyện ko có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban quần chúng huyện cùng lúc tiến hành nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban quần chúng cấp xã quy định tại Luật này.

Điều 62. Thanh tra chuyên ngành về tôn giáo, tín ngưỡng

1. Thanh tra chuyên ngành về tôn giáo, tín ngưỡng là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, tư nhân trong việc chấp hành luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

Cơ quan điều hành nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ở trung ương chịu nghĩa vụ chỉ huy, tổ chức tiến hành thanh tra chuyên ngành về tôn giáo, tín ngưỡng trong khuôn khổ cả nước.

2. Thanh tra chuyên ngành về tôn giáo, tín ngưỡng tiến hành các nhiệm vụ sau đây:

a) Thanh tra việc tiến hành chế độ, luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng của Ủy ban quần chúng các đơn vị quản lý;

b) Thanh tra những vụ việc có tín hiệu vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng.

Điều 63. Khiếu nại, tố giác, khởi kiện về tôn giáo, tín ngưỡng

1. Người đại diện, ban điều hành cơ sở tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, giáo đồ và các tổ chức, tư nhân khác có lợi quyền và trách nhiệm liên can có quyền tố cáo, khởi kiện vụ án hành chính, khởi kiện vụ án dân sự, đề xuất khắc phục việc dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền và ích lợi hợp lí của mình theo quy định của luật pháp có liên can.

2. Tư nhân có quyền tố giác hành vi vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng. Việc khắc phục tố giác vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng tiến hành theo quy định của luật pháp về tố giác.

Mục 2. XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Điều 64. Xử lý vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng

1. Tổ chức, tư nhân có hành vi vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng hoặc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để vi phạm luật pháp thì tùy theo thuộc tính, chừng độ vi phạm nhưng bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu nghĩa vụ hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải đền bù theo quy định của luật pháp.

2. Căn cứ quy định của Luật này và Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, vẻ ngoài xử phạt, mức xử phạt, giải pháp giải quyết hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt chi tiết và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; cơ chế vận dụng các giải pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng.

Điều 65. Xử lý cán bộ, công chức vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng lúc thi hành công vụ

Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng lúc thi hành công vụ thì tùy theo thuộc tính, chừng độ vi phạm nhưng bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu nghĩa vụ hình sự theo quy định của luật pháp đối với hành vi vi phạm sau đây:

1. Lợi dụng chức phận, quyền hạn làm trái quy định của Luật này và luật pháp có liên can;

2. Thiếu nghĩa vụ trong điều hành để xảy ra vi phạm luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng;

3. Vi phạm quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong điều hành nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng.

Chương IX

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 66. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 5 2018.

2. Pháp lệnh tôn giáo, tín ngưỡng số 21/2004/UBTVQH11 hết hiệu lực bắt đầu từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

Điều 67. Điều khoản chuyển tiếp

1. Nhóm người đã được bằng lòng đăng ký sinh hoạt tín ngưỡng , tổ chức đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng, xác nhận tổ chức tín ngưỡng trước ngày Luật này có hiệu lực chẳng phải làm thủ tục đăng ký, xác nhận lại theo quy định tại các điều 17, 19 và 22 của Luật này.

2. Tổ chức tín ngưỡng trực thuộc đã được thành lập, chia, tách, sáp nhập, thống nhất; hội đoàn tín ngưỡng, dòng tu và tổ chức tu hành số đông đã được cấp đăng ký hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực chẳng phải làm thủ tục yêu cầu, đăng ký lại theo quy định tại Điều 29 và Điều 38 của Luật này.

3. Đối với tổ chức đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng trước ngày Luật này có hiệu lực thì thời kì để xác nhận là tổ chức tín ngưỡng theo quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật này được tính kể từ tổ chức được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng.

4. Tổ chức tín ngưỡng đã được xác nhận trước ngày Luật này có hiệu lực là pháp nhân phi thương nghiệp bắt đầu từ ngày Luật này có hiệu lực. Các tổ chức tín ngưỡng này có nghĩa vụ điều chỉnh hiến chương tại đại hội gần nhất theo quy định tại Điều 23 và đăng ký hiến chương sửa đổi theo quy định tại Điều 24 của Luật này.

5. Chậm nhất là 30 ngày bắt đầu từ ngày Luật này có hiệu lực, tổ chức tín ngưỡng, tổ chức tín ngưỡng trực thuộc, tổ chức đã được cấp chứng thực đăng ký hoạt động tín ngưỡng trước ngày Luật này có hiệu lực có nghĩa vụ công bố danh mục hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng 5 tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 43 của Luật này.

6. Chậm nhất là 30 ngày bắt đầu từ ngày Luật này có hiệu lực, cơ sở tôn giáo đã công bố hoạt động tôn giáo hằng 5 trước ngày Luật này có hiệu lực có nghĩa vụ đăng ký hoạt động tôn giáo theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này.

Điều 68. Quy định cụ thể

Chính phủ quy định cụ thể các điều, khoản được giao trong Luật.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 phê chuẩn ngày 18 tháng 11 5 2016.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Thị Kim Ngân


 


Trích nguồn: TH số 2 Tân Thủy
Danh mục: Âm nhạc lớp 2

Nguyễn Thị Lan Nhung

Nguyễn Thị Lan Nhung là một giáo viên dạy giỏi có tiếng ở Quảng Bình. Cô đã có hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy Không chỉ giảng dạy trực tiếp, cô đã có 9 năm dạy học Online. Học sinh khắp cả nước có thể theo dõi những bài giảng của cô mọi lúc, mọi nơi.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button