Tổng hợp

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 21

hoatieu.vn xin gửi đến thầy cô bài viết Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 21 theo quy định Thông tư 12/2019/TT-BGDĐT về chương trình bồi dưỡng thường xuyên thầy cô giáo măng non để thầy cô cùng tham khảo. Bài thu hoạch có chủ đề phát hiện, chắt lọc và tổ chức các hoạt động , giáo dục phục vụ trẻ con có nhu cầu đặc trưng.

Bài thu hoạch BDTX module GVMN 21

I. CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT TRONG TRƯỜNG MẦM NON

Bạn đang xem bài: Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 21

1. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật măng non nhằm:

  • Tạo ra được không gian sống, học tập hòa nhập tốt nhất cho trẻ khuyết tật măng non, tạo điều kiện thuận tiện cho trẻ khuyết tật được tham dự học cùng trẻ tầm thường ở các trường, lớp măng non
  • Giáo dục hòa nhập là thời cơ để trẻ tầm thường và trẻ khuyết tật hiểu đúng trị giá của nhau, xóa bỏ sự xa cách tự ti, xa lánh để trẻ có bổn phận với nhau hơn
  • Giúp trẻ KT được học tại nơi trẻ sinh sống cùng gia đình, ko có sự tách biệt không gian sống vì trường măng non hòa nhập có bổn phận tiếp thu tòan bộ trẻ của địa phương nơi trường đóng ngoại trừ trẻ khuyết tật hay trẻ tầm thường vào học
  • Giúp trẻ khuyết tật học được nhiều hơn ở bạn, ở thầy cô giáo và nhà trường
  • Thông qua lớp học hòa nhập tạo điều kiện cho mọi trẻ, trong đấy kể cả trẻ măng non tầm thường và trẻ khuyết tật được tăng trưởng tòan diện về thể chất, tình cảm. trí óc, thẩm mỹ, tạo nên những nhân tố trước hết của tư cách và sẵn sàng cho trẻ vào lớp 1
  • Giáo dục hòa nhập trẻ măng non còn vào vai trò giúp trẻ khuyết tật được can thiệp sớm và phân phối gia đình trẻ khuyết tật trong công việc can thiệp sớm
  • Tổ chức các họat động giáo dục trẻ trong 1 môi trường giáo dục tầm thường, tạo cho mọi trẻ măng non kể cả trẻ khuyết tật có dịp được và giáo dục đồng đẳng
  • Tạo sự cộng tác giữa gia đình, tập thể và nhà trường, trong việc giáo dục trẻ KT măng non

2. Quyền lợi và bổn phận của cơ sở GDMN trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

  • Quyền lợi

 Đối với trẻ măng non:

  • Tất cả mọi trẻ đều được và học tập để đạt được chỉ tiêu giáo dục chung
  • Trẻ có ý thức tập thể số đông, có sự học tập lẫn nhau, biết mến thương đồng cảm và hỗ trợ nhau tạo thành nhóm bằng hữu
  • Trẻ khuyết tật được thầy cô giáo nhiệt tình trong học tập và sinh họat, được trẻ trong lớp thông cảm, hỗ trợ
  • Trẻ được sống và học tập cùng nhau, mọi trẻ đều được học tập để đạt được chỉ tiêu giáo dục chung. Trẻ khuyết tật được tôn trọng, được chú tâm những ưu điểm, được tham dự các họat động của lớp và được khích lệ, khuyến khích kịp thời
  • Trẻ khuyết tật măng non được hỗ trợ các dịch vụ học tập, , nuôi dưỡng thích hợp

Đối với thầy cô giáo

  • Giáo viên trực tiếp giáo dục trẻ khuyết tật được học tập tăng lên hiểu biết và biết cách tổ chức giáo dục trẻ khuyết tật trong lớp hòa nhập. Giáo viên biết tổ chức giờ học riêng cho trẻ KT, biết lập giấy tờ theo dõi, biết bình chọn và xây dựng kế họach chỉ tiêu giáo dục riêng cho từng trẻ KT
  • Giáo viên có dịp tiếp cận và sử dụng những công nghệ mới trong và giáo dục trẻ KT măng non

Đối với cơ sở giáo dục măng non

  • Cơ sở giáo dục măng non có tổ chức giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật được bình chọn cao về tính nhiều chủng loại trong giáo dục, tôn trọng và được suy tôn.
  • Nhà trường tạo điều kiện và thời cơ học tập về giáo dục đặc trưng cho thầy cô giáo măng non tham dự dạy trẻ khuyết tật hòa nhập, giúp thầy cô giáo có tri thức, bản lĩnh và cách thức, kĩ năng tổ chức tốt các họat động giáo dục trẻ tại trường lớp măng non hòa nhập
  • Cộng đồng thầy cô giáo có sự tập thể bổn phận cao và phân phối nhau hăng hái hơn trong công việc giáo dục.
  • Đồ dùng trang thiết bị của trường, lớp được ân cần chú tâm bổ sung thích hợp với mọi trẻ
  • Phụ huynh ân cần hăng hái hơn, có bổn phận phối hợp cộng với thầy cô giáo và nhà trường trong giáo dục trẻ khuyết tật
  • Quyến rũ được sự phân phối của xã hội và tập thể trong việc giáo dục trẻ về nhiều mặt trong đấy có tăng mạnh điều kiện hạ tầng, đồ dung học tập cho trẻ khuyết tật và trẻ tầm thường.

3. Trách nhiệm của trường măng non trong tổ chức giáo dục hòa nhập trẻ KT măng non

– Trường có bổn phận tiếp thu, sắp đặt trẻ khuyết tật vào lớp học thích hợp

– Trẻ được xếp học ở lớp MN thích hợp với sự tăng trưởng của thế hệ

– Lớp học có tỷ lệ học trò cân đối, ko quá đông, mỗi lớp chỉ nên xếp từ 1-2 trẻ khuyết tật học hòa nhập. Khi lớp nhận 1-2 trẻ khuyết tật, sĩ số lớp cần được giảm 3-5 trẻ để thầy cô giáo có điều kiện giảng dạy và trẻ

– Nhà trường có bổn phận tổ chức nhóm chuyên môn phân phối thầy cô giáo dạy lớp hòa nhập trong công việc mày mò, xây dựng và tiến hành kế họach giáo dục tư nhân cho trẻ KT

– Hiệu trưởng và BGH trường măng non là người vào vai trò chỉ huy hăng hái mang tính phân phối cao trong GDHNKT.

– Nhà trường có sổ danh bạ theo dõi học trò chung của trường theo các lớp và học trò khuyết tật theo đúng đề xuất (số quy trình, tên trẻ, tháng ngày 5 sinh, dân tộc, tín ngưỡng, tên ba má nghề nghiệp, địa chỉ lúc cần báo tin, thầy cô giáo gánh vác lớp…)

– Giáo viên phải đồ mưu họach giáo dục tư nhân cho trẻ khuyết tật riêng. Kế họach và giáo dục tư nhân cần có sự điều chỉnh chỉ tiêu giáo dục dài hạn, ngắn hạn. Kế họach giáo dục và các giải pháp tiến hành phải chi tiết để giúp trẻ đạt được chỉ tiêu đã đề ra và có sự luận bàn trao đổi với ba má trẻ và nhóm cán bộ thầy cô giáo chuyên môn về KT của trường.

– Giáo viên có sự điều chỉnh cách thức dạy và bình chọn thích hợp với trẻ KT

– Nhà trường cần sắp đặt đồ dùng trang thiết bị thích hợp phân phối trong giáo dục trẻ khuyết tật và đề nghị tăng mạnh sự phân phối của gia đình và xã hội về điều kiện hạ tầng, đồ dung học tập cho trẻ khuyết tật.

– Nhà trường có sự hiệp tác chặt chẽ với gia đình, tập thể và các ban ngành đòan thể địa phương để huy động nhiều nguồn lực phân phối cho GDHN

II. NHIỆM VỤ CỦA BGH VÀ GIÁO VIÊN TRONG TỔ CHỨC GDHN TRẺ KHUYẾT TẬT

1.Nhiệm vụ của Ban giám hiệu trường măng non

– Dò hỏi danh sách trẻ trong độ tuổi măng non tại địa phương theo chỉ huy chung của tòan ngành. Thông qua công việc dò xét nắm số lượng trẻ đi học để xây dựng kế họach giáo dục măng non của địa phương. Việc dò xét nắm danh sách trẻ tại cơ sở thường phối hợp với Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ con, Hội Phụ nữ, Y tế cơ sở vào trước 5 học mới.Qua dò xét trường MN sẽ nắm được số trẻ theo các độ tuổi và số trẻ khuyết tật, nhu cầu đi học của trẻ để xây dựng kế họach tiếp thu trẻ cho 5 học mới.

– Nhà trường cùng phối hợp với cán bộ Y tế cơ sở thực hiện khám chắt lọc bình chọn chừng độ tật để có phân lọai sơ bộ chừng độ khuyết tật của trẻ, xây dựng phương án tiếp thu hoặc phân phối can thiệp cho trẻ tại gia đình

– Xây dựng kế họach tiếp thu trẻ tới trường, phân lớp hòa nhập, cắt cử thầy cô giáo dạy hòa nhập.

– Tổ chức bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cho thầy cô giáo dạy lớp hòa nhập

– Chuẩn bị phòng học, phục vụ đề xuất và điếu kiện hạ tầng, đồ dùng đồ chơi bổ sung cho lớp hòa nhập

– Kiện tòan hội phụ huynh cho 5 học mới và các tổ chức phân phối trẻ như nhóm bằng hữu

– Xây dựng hệ thống sổ sách theo dõi công việc GDHN của trường

– Xây dựng màng lưới chỉ dẫn, tuyên truyền viên về GDHN trẻ KT

– Tổ chức tiến hành chương trình CSGD trẻ KT tại trường MN

– Phân công thành viên của BGH chịu bổn phận chỉ dẫn, đôn đốc, phân phối tiến hành và rà soát bình chọn từng giai đọan GDHN trẻ KT tại từng nhóm, lớp

– Tổ chức bồi dưỡng tri thức tổ chức CSGD trẻ theo lọai tật nhưng lớp sẽ tiếp thu cho thầy cô giáo được cắt cử dạy HN

– Phân bổ số lượng học trò mỗi lớp hòa nhập chỉ nên từ 1-2 trẻ cùng lọai tật. số học trò chung của lớp chỉ nên 25-30 trẻ là tối đa

– Đối với lớp hòa nhập nhà trường cần xem xét xây dựng môi trường học t6ạp trong lớp hòa nhập và trong tòan trường với tình cảm đồng cảm mến thương hỗ trợ. Có sự đòan kết giúp sức hỗ trợ nhau giữa thầy cô giáo và ggiáo viên, giữa học trò và học trò ko có sự phân biệt đối xử.

– Đối với lớp hòa nhập bao giờ cũng có giờ họat động chung cả lớp và giờ học riêng (tiết tư nhân) cho trẻ khuyết tật vì thế nhà trường cần có sự dành đầu tiên tạo điều kiện về diện tích phòng học, trang thiết bị đồ dung đồ chơi. Bổ sung đồ dung trang thiết bị thiết yếu cho lớp có trẻ khuyết tật như bàn khung tư nhân, thảm màu, đố chơi, phương tiện luyện tập tùy theo lọai tật…

– Những trẻ KT nặng chẳng thể tới trường như đa tật, bại não…. Trường MN cần chỉ dẫn ba má trẻ liên hệ với Y tế cơ sở để được phân phối về mặt y tế hồi phục tác dụng. Đi lại và huy động nhiều nguồn lực cùng phân phối giúp thầy cô giáo dạy lớp hòa nhập và trẻ trong lớp hòa nhập hòan thành tốt đề xuất đặt ra

– Thông tin kịp thời những văn minh cũng như những nhu cầu của lớp hòa nhập cho gia đình và các tổ chức phân phối khác

– Bình chọn khích lệ khen thưởng kịp thời đối với lớp và thầy cô giáo dạy hòa nhập

2. Nhiệm vụ của thầy cô giáo MN dạy lớp hòa nhập

Giáo viên dạy lớp hòa nhập cần quán triệt chỉ tiêu và đề xuất của lớp hòa nhập. Trong lớp hòa nhập trẻ khuyết tật phải được hòa nhập về mọi mặt thể chất, tình cảm xã hội và nhận thức trong lớp học và trong chương trình chung. GDHN yêu cầu người thầy cô giáo phải mày mò và bình chọn trẻ KT rất chi tiết, kĩ càng và thường xuyên hơn. Điều đấy được trình bày qua sổ nhật ký theo dõi sự văn minh của trẻ khuyết tật. Căn cứ vào những nhận xét đấy thầy cô giáo gánh vác, thầy cô giáo chuyên về GDKT sẽ cùng BGH và ba má trẻ trao đổi đật ra các chỉ tiêu GD chuẩn xác với từng trẻ, mang tính cá biệt hóa trong giáo dục. Thông qua các chỉ tiêu đã được hợp nhất của từng giai đọan, từ đấy xây dựng kế họach giải pháp tiến hành cho trẻ, kế họach hỗ trợ trẻ qua vòng tay bằng hữu, gia đình, lớp học và nhà trường.

Tuy nhiên trong thực t6é có thể tùy lọai tật và chừng độ tật nhưng sự hòa nhập có thể phải tiến hành dần từng bước

– Giáo viên cần thực thụ mến thương, gần gụi và nhiệt tình đối với trẻ KT. Nắm được những đặc điểm của trẻ KT hòa nhập trong lớp, xây dựng kế họach, chỉ tiêu và cách thức giáo dục thích hợp cho trẻ.

– Giáo viên cần nghiên cứu kỹ đặc điểm, nhu cầu của trẻ KT học tại lớp, nắm vững kĩ năng bình chọn trẻ khuyết tật để cùng nhóm phân phối GDHN của trường xây dựng bản kế họach GD tư nhân cho trẻ KT của lớp

– Tổ chức GDCS trẻ theo kế họach GD tư nhân đã được xây dựng hợp nhất

– Lập sổ theo dõi, ghi nhật ký về sự tăng trưởng, văn minh riêng của trẻ KT tại nhóm, lớp

– Định kỳ bình chọn và xây dựng kế họach GD, riêng cho từng trẻ KT trong lớp

– Giáo viên phải biết sử dụng các phương tiện thiết bị chuyên dung của trẻ KT trong lớp hòa nhập nhằm giúp trẻ sử dụng và giải quyết lúc có sự cố: máy trợ thính, xe lăn,…

– Giáo viên phải học và mày mò về cách thức giáo dục trẻ KT hòa nhập biết tổ chức tiến hành tiết GD tư nhân và kế họach GD tư nhân cho trẻ KT. Biết sử dụng và tự làm thiết bị đồ dùng đồ chơi thích hợp để tổ chức môi trường GD tốt cho trẻ KT trong lớp

– Giáo viên dạy lớp hòa nhập cần hiểu biết cách nuôi dưỡng, và xử lý 1 số diễn biến thất thường đối với trẻ khuyết tật của lớp

– Liên hệ luận bàn hợp nhất với gia đình trong cách bình chọn chỉ tiêu, cách thức giáo dục trẻ khuyết tật .

– Tuyên truyền và chuyển di sự phân phối của các lực lượng xã hội để tạo điều kiện thuận tiện cho GDHN trẻ KT

III. PHƯƠNG PHÁP GDHN TRẺ KT MẦM NON

1) Nhu cầu và bản lĩnh của trẻ khuyết tật

Đây là 1 việc làm buộc phải trong GDHN, từ mày mò nhu cầu và bản lĩnh của trẻ chúng ta mới có thể xây dựng được kế họach GD tư nhân cho trẻ và các họat động phân phối

– Nhu cầu của trẻ khuyết tật: Trẻ khuyết tật cũng có những nhu cầu căn bản như mọi trẻ con tầm thường, ngòai ra trẻ KT còn có những nhu cầu riêng theo từng lọai tật và rất cần sự hỗ trợ phân phối từ lớp hòa nhập cũng như tập thể

Nhu cầu của trẻ tầm thường

Nhu cầu của trẻ KT cần được phục vụ

1. Nhu cầu về thể chất: thức ăn, nơi ở, nước, áo quần đủ ấm

Trẻ bị hở hàm ếch hoặc bại não thường găp gian nan lúc nuốt thức ăn: cần được hỗ trợ đặc trưng trong nuôi dưỡng ăn uống

2. Sự an tòan về than thể cũng như về ý thức, tình cảm

Trẻ bị bại não, liệt cứng có thể lên cơn co cứng cơ cần có nhu cầu đặc trưng; trẻ khiếm thính cần phát hiện sớm để đựơc phân phối máy nghe…

3. Sự thương mến gắn bó gia đình, bằng hữu… tập thể

Trẻ khuyết tật có nhu cầu cần được gia đình, họ hàng thương mến, bằng hữu hỗ trợ, thông cảm, san sớt..

4. Lòng tự tôn: những điều đạt được trong học tập, sự nhận thức, tôn trọng

Trẻ KT cũng có nhu cầu được tôn trọng, được tham dự vào cuộc sống chung của gia đình và xã hội, được học tập hòa nhập, được phát huy hết những khã năng vốn có của mình và mong muốn được mọi người xác nhận

5. Quá trình tăng trưởng tư nhân, sự hòan thiện, tính thông minh

Trẻ KT cần được đi học vì nhà trường là môi trường GD hòa nhập tốt nhất để có trẻ có thể tăng trưởng. 1 số trẻ trẻ KT có thể cần những thiết bị hay dụng cụ chuyển động đặc trưng để có thể tới trường.

– Năng lực của trẻ KT

– Năng lực là những đặc điểm tư nhân giải quyết được các yêu cầu của 1 họat động nhất mực đấy và là điều kiện để tiến hành kết quả hành động nào đấy. Bất kỳ họat động nào cũng yêu cầu ở con người 1 lọai năng lực và các năng lực đấy liên can với nhau

– Các đặc điểm về năng lực bù trừ của trẻ khuyết tật:

  • Sự mẫn cảm thính giác của trẻ mù
  • Sự mẫn cảm thị giác của trẻ điếc
  • Sự khôn khéo đôi chân của trẻ liệt chi trên

Do vậy, thầy cô giáo cần tạo điều kiện thuận tiện cho trẻ khuyết tật được tham dự các họat động chung. Qua đấy sẽ thỏa mãn các nhu cầu không giống nhau và tăng trưởng các năng lực. Tạo cho trẻ có sự hứng thú tình nguyện hơn là cưỡng ép trẻ.

2) Tổ chức GDHN trong lớp măng non:

– Tiêu chí, đề xuất chương trình học của trẻ khuyết tật tùy thuộc vào chừng độ khuyết tật. Chương trình học được xây dựng riêng cho từng trẻ KT và sẵn sàng đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị chung cho cả lớp và riêng cho trẻ khuyết tật

– Nên xếp trẻ ngồi phía trên gần cô giáo hoặc ở địa điểm thầy cô giáo dễ quan sát mà ko nên là tâm điểm chú tâm của lớp

– Ngòai họat động chung, gíáo viên sắp đặt thời kì tiến hành tiết tư nhân cho trẻ tại lớp và cần có sự phối hợp giữa thầy cô giáo chính và thầy cô giáo phân phối. Cũng cần phối hợp với gia đình tại trường và gia đình. Tiết tư nhân tiến hành với từng trẻ theo đặc điểm của từng tật. Tùy theo chừng độ tật nhưng thầy cô giáo chọn cách thức phù hợp, khỏang 15-20 phút/ngày, 2-3 buổi/tuần

– Giáo viên cần khích lệ, cổ vũ trẻ KT lúc thấy trẻ văn minh để tạo sự tự tin, sáng sủa cho trẻ

Để xây dựng chương trình kế họach giáo dục tư nhân cần thăm dò bình chọn các mặt tăng trưởng của trẻ dựa vào 5 lĩnh vực phát triền sau:

– Khả năng tăng trưởng thể chất, chuyển di

  • Đi lại thô
  • Đi lại tinh
  • Hiện trạng dinh dưỡng và sức khỏe

– Khả năng tiếng nói và giao tiếp

  • Ngôn ngữ nói: biểu đạt tầm thường hay có gian nan về vốn từ, ngữ pháp, phát âm…
  • Kĩ năng giao tiếp, thái độ trong giao tiếp..

– Khả năng nhận thức

  • Khả năng tập hợp chú tâm
  • Trí nhớ trong học tập và cuộc sống
  • Hiểu biết và tận dụng trong cuộc sống

– Khả năng tự dùng cho: tự dùng cho trong ăn uống, vận động, vệ sinh, tự dùng cho

– Kĩ năng tư nhân, xã hội

  • Họat động, sinh hoạt tăng trưởng theo thế hệ..
  • Xử sự thích ứng với xã hội, tập thể

Ngòai ra cũng cần chú tâm không gian sống của trẻ ở gia đình, nhà trường, cộng đống …là những nhân tố có thể tác động trực tiếp tới trẻ

3) Bình chọn trẻ khuyết tật trong công đoạn học hòa nhập là bình chọn sự văn minh của trẻ sau mỗi giai đọan CSGD về các mặt hành vi, cư xử, giao tiếp và các hiểu biết khác

– Kết quả của những lần bình chọn sẽ là kinh nghiệm tốt cho thầy cô giáo và ba má. Cùng lúc cũng cần tham khảo quan điểm của các chuyên gia trong nhóm chuyên ngành để bình chọn đúng mức sự văn minh của trẻ và hướng can thiệp tiếp.

– Khảo sát bình chọn theo từng giai đọan 3, 6 tháng theo kĩ năng tăng trưởng của trẻ

– Ghi nhận kết quả của trẻ vào sổ theo dõi và công bố cho gia đình kể cả những thành công và chưa thành công của trẻ.

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục huấn luyện trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 1
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 9
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module GVMN 8

 


Trích nguồn: TH số 2 Tân Thủy
Danh mục: Tổng hợp

Nguyễn Thị Lan Nhung

Nguyễn Thị Lan Nhung là một giáo viên dạy giỏi có tiếng ở Quảng Bình. Cô đã có hơn 20 năm kinh nghiệm giảng dạy Không chỉ giảng dạy trực tiếp, cô đã có 9 năm dạy học Online. Học sinh khắp cả nước có thể theo dõi những bài giảng của cô mọi lúc, mọi nơi.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button